Friday, May 4, 2018

Không nên đập bỏ chốn linh thiêng, cơ sở tôn giáo đã tồn tại hàng trăm năm

Ls. Trần Hồng Phong: Tôi hiểu rằng những người theo chủ nghĩa cộng sản là người "vô thần" - tức là không theo một tôn giáo nào, không tin vào Chúa, Phật, không thờ phụng ai (trừ ông bà, cha mẹ mình). Tuy nhiên, Nhà nước VN công nhận và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng. Có thể nói, xã hội loài người với nhiều ngàn năm qua, bất luận khi nào đều luôn tồn tại tín ngưỡng, đức tin. Đó không chỉ là một quyền của con người, mà còn là sức mạnh tinh thần, giúp mỗi người có niềm tin, tin vào sự tốt đẹp và vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Đối với những người theo đạo, chẳng hạn như Công giáo, hay đạo Phật, ... thì Nhà thờ, nhà Chùa và tượng Phật, tượng Chúa chính là biểu tượng của đức tin, mà giáo dân hay phật tử xem không khác nào bậc "lãnh tụ" đối với những người cộng sản. Chính vì vậy, việc đập bỏ những chốn linh thiêng, cơ sở tôn giáo đã tồn tại hàng trăm năm (trước thời điểm đảng cộng sản VN ra đời), không chỉ là sự xót xa luyến tiếc về giá trị văn hoá, lịch sử của dân tộc; mà đau lòng lắm - đối với những người có đạo. Tôi ủng hộ việc không nên đập bỏ những cơ sở tôn giáo/chốn linh thiêng đã tồn tại hàng trăm năm. Không nên đối xử tàn bạo với đức tin của người khác. Mà nói thật với 50 tuổi đời đã qua của mình, tôi chưa thấy tương lai tốt đẹp nào cho những người cố tình đi đập phá những biểu tượng tâm linh. Thật. 

<< Nhà thờ Thủ Thiêm ở quận 2 (TP.HCM) đã tồn tại hàng trăm năm. Có tin nói cơ sở tôn giáo này sắp bị Nhà nước đập bỏ (ảnh minh hoạ)

Bình luận án Blog xin giới thiệu hai ý kiến của hai nhà chuyên môn về vấn đề này, với nhiều nội dung cần được những người có trách nhiệm tham khảo, từ nguồn trên mạng xã hội.

.....

ĐỀ NGHỊ GIỮ LẠI 
CÁC CƠ SỞ TÔN GIÁO LÂU ĐỜI Ở THỦ THIÊM

TS. Nguyễn Quốc Tuấn - Viện trưởng Viện Nghiên cứu tôn giáo; 
Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia

Gần đây tại TP.HCM, Hà Nội và một số thành phố lớn khác xuất hiện nhiều khu đô thị mới. Đây là xu thế tất yếu của quá trình đô thị hóa. Nhưng trong xu thế này, dường như chúng ta đã bỏ quên quy hoạch dành cho sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo.

Tôi có theo dõi thông tin và tìm hiểu cẩn trọng, nên tôi đề nghị chính quyền TP.HCM giữ lại nguyên trạng Hội dòng Mến thánh giá Thủ Thiêm, Nhà thờ Thủ Thiêm và các cơ sở tôn giáo lâu đời ở vùng đất này.

Bởi đó là những cơ sở tôn giáo có nhiều giá trị về di sản, lịch sử, phù hợp với văn hóa dân tộc và họ cũng chưa có vi phạm pháp luật nào để có thể nghĩ đến chuyện xử lý hay giải tỏa, di dời đi nơi khác.

Phương án tốt nhất là chính quyền TP.HCM giữ lại các cơ sở tôn giáo lâu đời đó và tạo ra điểm nhấn về tâm linh trong khu đô thị mới Thủ Thiêm, cùng với các cơ sở tôn giáo khác như chùa, miếu, những vùng đất có tính linh thiêng trong tâm tưởng cư dân nơi đây.

Một khu đô thị muốn trở thành nơi hội tụ, nơi chia sẻ của cộng đồng thì dứt khoát phải có cơ sở tôn giáo, phải có hiện diện khuôn mặt của tâm linh để cư dân có thể chia sẻ với nhau trên những niềm tin riêng chung của họ.

Nhờ sự phát triển của kinh tế mà ngày nay văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa tâm linh, đang được coi trọng, củng cố. Đây là xu hướng chung ở nhiều nước chứ không riêng Việt Nam. Có thể khẳng định điều này khi tham khảo cách duy trì văn hóa truyền thống, trong đó có văn hóa tín ngưỡng của người Nhật Bản.

Người Nhật rất hiện đại nhưng cũng rất cẩn thận lưu giữ các di tích và điều này vô cùng quan trọng đối với công tác giáo dục thế hệ trẻ, hướng cộng đồng dân cư xích lại gần nhau hơn.

Hiện nay có ý kiến rằng lối sống của người Việt Nam đang bị phá vỡ, bon chen, nhốn nháo... Vì thế, những nơi tâm linh là nơi đọng lại tâm hồn con người, giúp con người hướng thiện, sống tốt đẹp hơn. Xã hội hiện đại cần có những hạt nhân tinh thần chi phối đời sống con người, đời sống tâm linh.

Các nhà quy hoạch các khu đô thị mới đã có thiếu sót khi gần như không chú ý tới khía cạnh tâm linh. Không có chỗ cho đền, chùa, nhà thờ, trong khi những nhu cầu này tưởng xa xôi nhưng rất gần với đời sống con người.

Chúng ta cần tiến tới chuẩn hóa trong quy hoạch các khu đô thị, phải có phương án tốt nhất cho quy hoạch khu đô thị mới trên nền tảng những vùng đất cổ, có nhiều trầm tích văn hóa, di sản, niềm tin tâm linh đối với nơi đó. Phải có chỗ cho các cơ sở thờ tự, sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo ở những khu đô thị mới, đặc biệt là những khu đô thị có diện tích lớn để đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người. Có thể dựa trên các di tích vốn có hoặc xây mới các cơ sở thờ tự.

Không gian kiến trúc mới thiếu đi nơi tâm linh như con người sống mà không có lịch sử, không có gì ghi nhận, không có gì tiếp nối, bứt người ta ra khỏi truyền thống, ra khỏi gốc gác.

Bên cạnh đó, với người nước ngoài tới Việt Nam sinh sống và làm ăn lâu dài, sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo cũng là một nhu cầu cấp thiết cần được đáp ứng. Có như vậy, cộng đồng người Hàn Quốc, cộng đồng người Nhật Bản, doanh nhân phương Tây...mới cảm thấy gắn bó với đất nước mà mình đang dừng chân. Và khi đó, họ mới an tâm làm ăn sinh sống tại nước sở tại mà không có tâm lý chụp giật.
....

GIẢI TỎA CÁC CÔNG TRÌNH TÔN GIÁO LÂU ĐỜI 
LÀ KHÔNG THỎA ĐÁNG

TS. Nguyễn Thị Hậu, phó tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; 
Tổng thư ký Hội Sử học TP.HCM

Từ đô thị đến thôn quê, ở đâu các công trình tôn giáo tín ngưỡng như đình, chùa, đền, miếu hay hội quán, nhà thờ, tu viện... đều là trung tâm sinh hoạt tinh thần của cộng đồng. Đó còn là nơi tổ chức những hoạt động công ích như từ thiện, nuôi dưỡng người bệnh tật, người già và trẻ mồ côi...

Đặc biệt trong khu vực của nhà thờ hay tu viện đều có trường học, vừa dạy theo chương trình giáo dục chung vừa giảng dạy giáo lý cho con em giáo dân. Do đó, cộng đồng dân cư ở đâu cũng gắn bó với các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng.

Hình ảnh kiến trúc tôn giáo trở thành biểu tượng của quê hương bản quán như mái đình, tháp chuông cũng như dòng sông, bến nước… Nhiều công trình tôn giáo trở thành niềm tự hào của cộng đồng do tuổi đời lâu năm và những giá trị kiến trúc nghệ thuật.

ĐIỂM NHẤN CẢNH QUAN

Sài Gòn là một đô thị đa dạng về văn hóa, trong đó những kiến trúc kiểu phương Tây gồm công sở, biệt thự, công trình công cộng và nhất là công trình Công giáo như nhà thờ, tu viện, trường học... đã trở thành những điểm nhấn trong cảnh quan đô thị từ khu trung tâm đến vùng ven và ngoại ô.

Dù nhiều cơ sở tôn giáo được thiết kế và chỉ đạo do kiến trúc sư phương Tây, nhưng được xây dựng từ chính công sức và tiền của của cộng đồng người Việt sinh sống trong từng giáo xứ, thậm chí có công trình phải xây dựng qua nhiều thế hệ.

Riêng về Công giáo, trải qua nhiều thăng trầm, đổi tên, tách ra rồi lại sáp nhập, hiện nay Tổng giáo phận Sài Gòn có 23 giáo họ thành lập trên 100 năm: Chợ Quán - 1723, Chí Hòa - 1771, Thánh Gẫm (Gò Công - 1848), Xóm Chiếu - 1856, Chợ Đũi (Huyện Sĩ) và Thủ Thiêm - 1859, Tân Định - 1861, Cầu Kho và Bà Điểm - 1863, Phanxico (Cha Tam) - 1865, Chợ Cầu - 1869, Vĩnh Hội - 1875, Thủ Đức - 1879, Tân Quy và Tắc Rỗi - 1880, Bình Chánh - 1884, Thị Nghè và Gò Vấp - 1888, Long Đại - 1990 và Hạnh Thông Tây - 1910 (Hội đồng Giám mục Việt Nam (2010), Dấu ấn 350 năm Giáo hội Công giáo Việt Nam - NXB Phương Đông).

Cùng với sự hình thành các giáo xứ là những công trình kiến trúc nhà thờ, tu viện... qua hơn một thế kỷ đã trở thành một bộ phận quan trọng của di sản đô thị Sài Gòn - TP.HCM.

Theo một số tài liệu lịch sử thì “từ những vùng lân cận các nữ tu chạy loạn tụ họp lại, thành lập cộng đồng nữ tu dòng Mến Thánh giá tại Thủ Thiêm vào năm 1840”. Thủ Thiêm là một vùng quê ven sông Sài Gòn.

Theo người dân địa phương, ban đầu nơi này được gọi là Thổ Thêm do vùng đất bồi mỗi ngày một cao thêm nhờ sông Sài Gòn. Dần dần người ta đổi thành Thủ Thiêm, đồng âm đầu với những vùng lân cận như Thủ Dầu Một, Thủ Đức còn từ Thêm thì đọc trại ra là Thiêm.

Giáo họ Thủ Thiêm ra đời vào giữa thế kỷ XIX, lúc này nơi đây vẫn là một vùng hoang vu với rừng cây ngập mặn, “sấu gầm cọp um”, dân cư thưa thớt.

Sau khi Pháp chiếm thành Gia Định, giáo dân ở các nơi trong vùng Gia Định, Biên Hòa... lại kéo đến Thủ Thiêm sinh sống. Làng quê hình thành, dần dần có đình, chùa, có nhà thờ... Cho đến nửa cuối thế kỷ XX, tuy chỉ cách trung tâm thành phố một “con đò Thủ Thiêm” nhưng giữa hai bên là một khoảng cách quá xa về đời sống vật chất.

Hơn mười năm nay bán đảo Thủ Thiêm được biết đến như một đô thị hiện đại tương lai của TP.HCM. Nhờ vị trí độc đáo ở đối diện và chỉ cách khu vực lõi trung tâm lịch sử quận 1 một đoạn ngắn của sông Sài Gòn, bán đảo này được chọn là trung tâm hành chính - tài chính mới, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của một thành phố 10 triệu dân cùng lượng lớn người vãng lai.

Vì vậy các dự án giao thông, hạ tầng, trung tâm thương mại tài chính, trung tâm văn hóa như bảo tàng, nhà hát, sân vận động và vô số dự án chung cư, khu dân cư cao cấp... đã hình thành. Đi trước các dự án này là quá trình đền bù giải tỏa những xóm làng lâu đời, ruộng vườn, trong đó có các công trình tôn giáo tín ngưỡng.

BIỂU TƯỢNG NỐI LIỀN QUÁ KHỨ - HIỆN TẠI

Chưa biết tổng thể dân cư mới của đô thị Thủ Thiêm có nguồn gốc từ đâu, nhưng ở bất cứ cộng đồng nào, kể cả đô thị mới thì người dân cũng cần có nơi thờ tự để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng của mình.

Vì vậy, trong quy hoạch đô thị mới việc giải tỏa các công trình tôn giáo tín ngưỡng lâu đời là không thỏa đáng, vì ngoài chức năng phục vụ đời sống tinh thần của cộng đồng, những công trình đó luôn chứa đựng giá trị lịch sử - văn hóa.

Cư dân Thủ Thiêm do bị giải tỏa mà phải đến sinh sống ở nơi khác thì chính những công trình văn hóa như đình, chùa, nhà thờ... ở nơi chốn cũ là biểu tượng nối liền quá khứ và hiện tại của họ.

Thành phố mới không trở nên xa lạ đối với những người đã hy sinh nhà cửa, ruộng vườn và cả một phần cuộc đời của họ cho sự ra đời của thành phố mới. Đổi lại, việc gìn giữ một số công trình văn hóa lâu đời ở đô thị mới sẽ nuôi dưỡng được ký ức lịch sử của vùng đất này.

......