Tuesday, July 31, 2018

Quyền riêng tư ở nơi công cộng: Mỗi bên đều phải cẩn thận


Ls. Trần Hồng Phong: Vụ việc xảy ra ở Sài Gòn và báo Pháp luật TP.HCM mời tôi nêu quan điểm, ý kiến pháp lý. Ý kiến của tôi như nêu trong bài viết, nhưng cần nói thêm là hành động "yêu" trong rạp phim của "cặp đôi" đó hoàn toàn không có gì đáng bênh vực. Nếu không muốn nói là đáng lên án. Giữa chốn công cộng mà coi như nơi không người là không ổn rồi. Bài dưới đây đăng trên báo ngày 30/7/2018. Nếu quan tâm đến vụ này, quý vị nên đọc bài gốc trên báo, còn có các bài viết liên quan khác. 

<< Hành động này bị báo Pháp luật TP.HCM đánh giá là "thân mật thái quá". Ảnh báo Pháp luật TP.HCM


Cặp đôi thân mật thái quá trong rạp phim bị tung lên mạng

Thứ Hai, ngày 30/7/2018 - 11:27

Cặp đôi nam nữ có hành vi thân mật thái quá trong rạp phim của CGV, được hệ thống camera giám sát của rạp ghi lại, tuy nhiên hình ảnh này lại xuất hiện trên Facebook và một số diễn đàn... Những ngày qua, trên nhiều trang Facebook và diễn đàn xuất hiện hình ảnh đen trắng một cặp đôi trai gái đang có những hành vi thân mật thái quá trên ghế xem phim.

Từ ảnh chụp thấy rõ đây là ghế Sweetbox (ghế dành cho các cặp đôi với vách ngăn riêng tư) thuộc hệ thống rạp CGV thuộc Công ty CJ CGV Việt Nam. Và những hình ảnh này chụp lại từ hệ thống camera giám sát của cụm rạp với nhiều tư thế và rất rõ mặt.

Sau khi những hình ảnh này được tung lên mạng, nhiều vấn đề về bảo mật thông tin khách hàng được đặt ra, cả về đạo đức lẫn khía cạnh pháp lý.

Luật sư Trần Hồng Phong, Công ty luật Ecolaw, cho biết: “Việc rạp gắn camera cho mục đích an ninh, quản lý là phù hợp. Tuy nhiên, dữ liệu (hình ảnh) do camera ghi, về nguyên tắc phải được lưu trữ và quản lý chặt chẽ. Ban quản lý rạp phải có quy định về việc sử dụng, trích xuất, xóa, cung cấp cho bên thứ ba... Và những quy định này phải phù hợp với quy định của pháp luật. Nói đơn giản là không ai được phép sử dụng tùy tiện, phát tán thông tin, hình ảnh cá nhân, bí mật đời tư của người khác”.

Theo luật sư Trần Hồng Phong, Bộ luật Dân sự 2015 quy định cá nhân có quyền nhân thân và được pháp luật bảo vệ. Đó là quyền đối với hình ảnh (Điều 32), quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34), quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân (Điều 38)... Nếu bất kỳ ai có hành vi tự ý phát tán, sử dụng trái phép hình ảnh cá nhân, bí mật đời tư, đời sống riêng tư của người khác thì người bị xâm hại có quyền kiện ra tòa án, yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi sai trái, bồi thường thiệt hại.

“Trong sự việc này, tôi cho rằng hành vi của cặp đôi có thể vi phạm về khía cạnh văn hóa, đạo đức nhưng mặt khác, hình ảnh của họ thuần túy là chuyện đời sống riêng tư, cá nhân. Vì vậy, việc ai đó phát tán hình ảnh thân mật của họ lên mạng xã hội là hoàn toàn sai trái, xâm hại đến quyền nhân thân của họ. Hành vi này là ác ý, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm.

Đôi nam nữ bị phát tán hình ảnh có quyền yêu cầu rạp xác minh, xử lý trách nhiệm cá nhân và bồi thường thiệt hại về danh dự, quyền nhân thân đối với hình ảnh, bí mật đời tư của mình. Đồng thời có thể yêu cầu (thông qua tòa án nếu không đạt được thỏa thuận) những bên phát tán hình ảnh trên mạng xã hội phải xóa bỏ” - luật sư Trần Hồng Phong khẳng định.

Hiện nay, Việt Nam có nhiều hệ thống rạp, trong đó hệ thống của CGV hiện đại nhất, ngoài nhân viên tại rạp, CGV còn lắp đặt camera kín giám sát người xem. Việc lắp hệ thống camera này xuất phát từ việc bảo vệ bản quyền phim, tránh khán giả quay lén phim trong rạp và phát tán. Tuy nhiên, một số hệ thống rạp lại sử dụng nhân viên nhắc nhở chứ không lắp camera giám sát bởi họ không muốn xâm phạm đời tư của khách hàng.

PLO đã gửi câu hỏi đến CGV và đang chờ câu trả lời. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin sự việc đến bạn đọc.

QUỲNH TRANG
.....

* Quy định tại Bộ luật dân sự 2015:

Mục 2. QUYỀN NHÂN THÂN

Điều 25. Quyền nhân thân


1. Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

2. Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.

Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Điều 31. Quyền đối với quốc tịch

1. Cá nhân có quyền có quốc tịch.

2. Việc xác định, thay đổi, nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam do Luật quốc tịch Việt Nam quy định.

3. Quyền của người không quốc tịch cư trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm theo luật.

Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Điều 33. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể

1. Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.

2. Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

3. Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện.

Trường hợp người được thử nghiệm là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người nêu trên thì phải có quyết định của người có thẩm quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

4. Việc khám nghiệm tử thi được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có sự đồng ý của người đó trước khi chết;

b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ nếu không có ý kiến của người đó trước khi chết;

c) Theo quyết định của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp luật quy định.

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.

4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

......