Wednesday, January 3, 2018

Vì sao ông Vũ "nhôm" chưa có luật sư Việt Nam?

Ls. Trần Hồng Phong

Nếu chưa bị bắt hoặc không đầu thú, khả năng ông Phan Văn Anh Vũ (Vũ "nhôm") mời luật sư Việt Nam trợ giúp pháp lý và bào chữa là thấp. Vì các luật sư sẽ buộc phải ra tay "tố giác" thân chủ nếu không muốn bị xử lý, theo quy định tại Bộ luật hình sự mới vừa có hiệu lực từ 1/1/2018 (điều này phần nào đó sẽ gây bất lợi cho Vũ "nhôm" xét trên phương diện cá nhân về phía Vũ nhôm).  Trong khi đó, báo chí nước ngoài đưa tin ông Vũ nhôm đã có nhiều luật sư nước ngoài và họ đang giúp đỡ ông này tỵ nạn chính trị tại Đức (?)

Hình ảnh, thông tin về ông Vũ "nhôm" trên báo chí quốc tế. Nhiều người tự hỏi ông này là ai mà nắm giữ tài liệu bí mật nhà nước và tiết lộ?

Theo thông tin trên báo chí chính thống tại Việt Nam, chiều tối ngày 21/12/2017, Cơ quan an ninh Bộ công an đã bất ngờ ập vào khám xét nhà ông Phan Văn Anh Vũ tại trung tâm thành phố Đà Nẵng. Một khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng với bán đảo Sơn Trà tuyệt đẹp, nơi có loài vọc quý hiếm trong sách đỏ đang sinh sống.

Ông Vũ được báo chí liệt kê có tới nhiều chục bất động sản toạ lạc tại những vị trí "vàng" ở thành phố Đà Nẵng, và được gán cho danh hiệu "đại gia" quý giá.

Ngay sau đó chỉ 1 ngày, Bộ Công an ra quyết định khởi tố vụ án "Cố ý làm lộ tài liệu bí mật Nhà nước" và phát lệnh truy nã ông Vũ trên toàn quốc. Lúc này thiên hạ mới tá hoả là té ra ông ta đã "hô biến" từ lúc nào. Chưa hết, báo chí lần lượt khui ra trước đó nhiều tháng, Vũ "nhôm" đã thoái vốn của mình tại nhiều công ty! Một động tác cho thấy Vũ "nhôm" có kế hoạch chạy trốn từ lâu.

Ông Vũ "nhôm" đang trốn ở đâu, có còn ở tại Việt Nam hay không là câu hỏi được nhiều người quan tâm 1 tuần tiếp theo.

Thế rồi bất ngờ đến ngày cuối cùng của năm 2017, bắt đầu rộ tin nói ông Vũ "nhôm" đang bị cảnh sát Sigapore "giữ", hay "bắt" vì lý do "nhập cư bất hợp pháp" chi đó. Nhiều hãng tin lớn như BBC, VOA ... đưa thông tin này. Thế tức là ông Vũ "nhôm" đã bằng cách nào đó chuồn qua khỏi biên giới Việt Nam.

Tại Việt Nam, đến khuya ngày 2/1/2018, báo chí bắt đầu dè dặt đưa tin về việc một người đàn ông có tên là Phan Van Anh Vu đang bị bắt tại Singapore. Nhưng cũng chỉ đều dẫn theo nguồn tin từ Cục quản lý cửa khẩu và nhập cư Singgapore (ICA). Mà thậm chí cũng không có báo nào dám khẳng định chắc chắn đó có phải là ông Vũ "nhôm" mà công an VN đang truy nã hay không? (dù rằng báo nước ngoài có dán hình ông Vũ "nhôm")

Theo báo Pháp luật TP.HCM, ICA thông báo một công dân Việt Nam tên "Phan Van Anh Vu" bị tạm giữ với cáo buộc “vi phạm đạo luật Nhập cư” vào ngày 28-12-2017. Nhưng cơ quan này không đưa tiết lộ thêm chi tiết vụ việc. Trước đó, có thông tin cho biết Vu đã bị cơ quan chức năng Singapore chặn lại tại trạm kiểm soát hải quan Tuas.

Theo tờ Straits Times, Singapore hiện không có thỏa thuận dẫn độ với Việt Nam. Tuy nhiên theo Đạo luật Nhập cư của nước này, ICA vẫn có thể trục xuất người nước ngoài hồi hương trong một số trường hợp nhất định.

Bình luận về sự kiện bỏ trốn của ông Vũ "nhôm", báo Giáo dục Việt Nam dẫn lời phân tích của hai luật sư cho rằng trong bối cảnh hiện nay, ông Vũ "nhôm" chỉ còn có 1 con đường là đầu thú.

Cụ thể, luật sư Trương Anh Tú cho rằng: "Trách nhiệm của bị can là ra trình diện trước nhà chức trách, để cơ quan bảo vệ pháp luật làm rõ hành vi vi phạm có liên quan.​ Trong trường hợp bị can đầu thú, tự nguyện khai báo, khai báo trung thực, ăn năn, hối cải, hợp tác giúp cơ quan điều tra kết thúc nhanh vụ án, khắc phục những thiệt hại do mình gây ra thì có thể coi là tình tiết giảm nhẹ, là cơ sở để Đảng, Nhà nước xem xét, khoan hồng cho đối tượng".
....

Bình luận của luật sư Trần Hồng Phong:

1. Ông Vũ "nhôm" đã bị khởi tố bị can, nên về nguyên tắc và theo trình tự thủ tục trong tố tụng hình sự, ông đã có quyền và có thể mời luật sư tham gia bào chữa cho mình. Mà cụ thể phải là luật sư người Việt Nam, thì mới có đủ tư cách hành nghề bào chữa chính thức hợp pháp cho Vũ "nhôm". (Luật sư nước ngoài không được phép tham gia bào chữa trong các vụ án, phiên toà hình sự tại Việt Nam).

2. Tuy nhiên, vì ông Vũ "nhôm" đang bỏ trốn, lên tự mình khó có thể trực tiếp mời luật sư. Mà có thể là sẽ thông qua người thân mời luật sư. Hoặc người thân tự mình đi mời luật sư, kể cả trường hợp không biết ông Vũ đang ở đâu. 

3. Theo Bộ luật hình sự mới (2015, sửa đổi bổ sung 2017) vừa có hiệu lực từ ngày 1/1/2018, thì trong trường hợp được Vũ "nhôm" mời bào chữa, về mặt pháp luật, ngay lập tức luật sư sẽ phải tố cáo ngay đến cơ quan chức năng thông tin lẩn trốn của Vũ "nhôm". Đây gọi là thực hiện đúng quy định "luật sư phải tố cáo thân chủ" nếu họ có dấu hiệu phạm vào những tội về an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng... vv. Nếu luật sư nào không tố thân chủ mà bị "lộ",  thì sẽ có khả năng bị khởi tố ngược vào chính mình về tội "không tố giác tội phạm" - theo quy định tại các điều 19, 389 và 390 Bộ luật hình sự (mới).

4. Thế nên, dù khả năng Vũ "nhôm" mời luật sư bào chữa là chắc chắn, nhưng có lẽ việc này chỉ diễn ra sau khi ông Vũ "nhôm" đã bị bắt hay tự ông ra đầu thú (như trường hợp của ông Trịnh Xuân Thanh). Hoặc ít nhất ông Vũ "nhôm" có ý định đầu thú nên mời luật sư tư vấn thêm. 

5. Trên BBC, lại có tin khá "thú vị" là ông Vũ "nhôm" đã có luật sư, thậm chí nhiều luật sư người nước ngoài (Singapore, Đức), và họ đang tìm kế sách để đưa ông Vũ "nhôm" được sang Đức tị nạn chính trị theo nguyện vọng của ông. Việc này nếu có, là liên quan đến vấn đề pháp luật quốc tế, tư pháp quốc tế. Chứ quyết không thể nào theo pháp luật hình sự của Việt Nam được. 

6. Cuối cùng, về vấn đề vì sao ông Vũ "nhôm" lại bị khởi tố về tội rất lạ là "Cố ý làm lộ tài liệu bí mật nhà nước", trong khi theo thông tin trên các báo, thì ông này có rất nhiều bất động sản và có vẻ có dấu hiệu sai phạm trong lĩnh vực kinh doanh, kinh tế, hay thậm chí là hối lộ, tham nhũng thì mới hợp lý hơn. Thế mà làm sao ông ta lại có được tài liệu "bí mật của nhà nước" để mà tiết lộ? Và bí mật đó là cái chi mà ghê gớm đến mức phải khởi tố gấp vậy? Và Vũ "nhôm" tiết lộ cho ai, như thế nào? ...vv. Đúng là thâm cung bí sử nhức óc quá. Thôi thì chúng ta cũng đành cùng chờ xem sự thể sẽ ra sao, chứ cũng chả biết nói sao bây giờ. 

.........

* Quy định tại Bộ luật hình sự 2017 (sửa đổi bổ sung 2017):

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

3. Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Điều 389. Tội che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Các điều từ Điều 108 đến Điều 121 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Điều 123 (tội giết người); Điều 141, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 146, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi); Điều 150, các khoản 2 và 3 (tội mua bán người);

c) Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 152 (tội đánh tráo người dưới 01 tuổi); Điều 153 (tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi); Điều 154 (tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người);

d) Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 178, các khoản 2, 3 và 4 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

đ) Điều 188, các khoản 3 và 4 (tội buôn lậu); Điều 189, khoản 3 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191, các khoản 2 và 3 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196, các khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 205, các khoản 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép); Điều 206, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài); Điều 207 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả); Điều 208 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 219, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí); Điều 220, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 221, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 222, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 223, các khoản 2 và 3 (tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 224, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 243, các khoản 2 và 3 (tội hủy hoại rừng);

e) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 253 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 254, khoản 2 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 255 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 256 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 257 (tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 258 (tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 259, khoản 2 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần);

g) Điều 265, các khoản 2, 3 và 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 282 (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy); Điều 299 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 299 (tội khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân); Điều 311, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc);

h) Điều 329, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người dưới 18 tuổi);

i) Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài sản); Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 355, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 356, các khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 357, các khoản 2 và 3 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 (tội đưa hối lộ); Điều 365, các khoản 2, 3 và 4 (tội làm môi giới hối lộ);

k) Điều 373, các khoản 3 và 4 (tội dùng nhục hình); Điều 374, các khoản 3 và 4 (tội bức cung); Điều 386, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, dẫn giải, đang bị xét xử);

l) Các điều từ Điều 421 đến Điều 425 về các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Điều 390. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.


Điều 337. Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước

1. Người nào cố ý làm lộ hoặc mua bán bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Bí mật nhà nước thuộc độ tối mật;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa.

3. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;
b) Bí mật nhà nước thuộc độ tuyệt mật;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Gây tổn hại về chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

............