Tuesday, January 9, 2018

Nhớ rừng (Thế Lữ)

BLA: Mấy ngày qua dư luận cả nước ồn ào theo dõi mấy vụ "đại án" đưa các quan tham to ra xét xử. Trên mạng xã hội bỗng xuất hiện rất nhiều các trang lạ, mới lập, tường thuật đưa tin về phiên toà xét xử nguyên Uỷ viên Bộ chính trị, nguyên Bí thư thành uỷ TP.HCM ... (quan to nhất bị đưa ra toà, tới nay), với những lời lẽ miệt thị, nặng nề, khinh bỉ, lên án ... Đặc biệt là hình ảnh ông Đinh La Thăng Bị còng tay được phát tán khắp nơi. Than ôi, cuộc đời kiểu gì mà chỉ mới vài tháng trước ông oanh oanh liệt liệt, nhiều anh nhà báo tán dương, nịnh hót tít trên trời; lại có không ít "đồng chí" của ông mới hôm nào tay bắt chặt tay, miệng cười chúm chím, - mà thoắt phát quay phắt ... 180 độ! 

Nhìn hình ảnh ông Thăng, tôi bỗng liên tưởng tới hình ảnh trùm xã hội đen Năm Cam ở Sài Gòn ra Toà hơn chục năm trước. Dù khác biệt về địa vị, nhưng họ đều từng một thời là "chúa sơn lâm" trong khu rừng của mình. Mời mọi người cùng đọc lại bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ, để biết tâm sự của con hổ khi bị nhốt trong cũi sắt. Để cùng chiêm nghiệm rằng cuộc đời này suy cho cùng thật là ngắn ngủi và bé nhỏ. Chúa sơn lâm nào rồi cũng về với cát bụi mà thôi. 

Ông Đinh La Thăng tại phiên toà sáng 8/1/2018 (ảnh báo Thanh Niên)
.........

Nhớ rừng

(Lời con hổ ở vườn Bách thú, 
Tặng Nguyễn Tường Tam)

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể của muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

*

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị.
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!


1936

Nguồn:
1. Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7: Văn học giai đoạn 1900-1945), Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2004
2. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2007

.........
Thế Lữ 

Thế Lữ (1907 – 1989; tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ) là nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động sân khấu Việt Nam. Thế Lữ nổi danh trên văn đàn vào những năm 1930, với những tác phẩm Thơ mới, đặc biệt là bài Nhớ rừng, cùng những tác phẩm văn xuôi, tiêu biểu là tập truyện Vàng và máu (1934). Trở thành thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn kể từ khi mới thành lập (1934), ông hầu hết hoạt động sáng tác văn chương trong thời gian là thành viên của nhóm, đồng thời cũng đảm nhận vai trò một nhà báo, nhà phê bình, biên tập viên mẫn cán của các tờ báo Phong hóa và Ngày nay.

Từ năm 1937, hoạt động của Thế Lữ chủ yếu chuyển hướng sang biểu diễn kịch nói, trở thành diễn viên, đạo diễn, nhà viết kịch, trưởng các ban kịch Tinh Hoa, Thế Lữ, Anh Vũ, hoạt động cho đến sau Cách mạng tháng Tám. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm kịch kháng chiến trong những năm Chiến tranh Đông Dương.

Sau Hiệp định Genève, ông tiếp tục hoạt động sân khấu, trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam (1957-1977). Ông được coi là một người tiên phong, không chỉ trong phong trào Thơ mới, trong lĩnh vực văn chương trinh thám, kinh dị, đường rừng, mà còn là người có đóng góp rất lớn trong việc chuyên nghiệp hóa nghệ thuật biểu diễn kịch nói ở Việt Nam. 

Danh mục tác phẩm

Thơ

Mấy vần thơ (1935)
Mấy vần thơ, tập mới (1941)
Nhớ rừng

Kịch

Dương Quý Phi (1942), gồm hai vở:
Trầm hương đình
Mã Ngôi Pha
Người mù (1946)
Cụ đạo sư ông (1946)
Đoàn biệt động (1947)
Đề Thám (1948)
Đợi chờ (1949)
Tin chiến thắng Nghĩa Lộ (1952)

Thế Lữ cũng là dịch giả nhiều vở kịch của Shakespeare, Goethe, Schiller,...

(Theo Wikipedia)

......