Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

Phía tây Trường Sơn - Vũ Hùng (chương cuối)


Cuộc sửa soạn của các quản tượng bị chậm trễ vì trời nổi dông suốt mấy đêm liền.

Ba hôm sau, người làng Vông-xay mới lên đường. Họ giong voi đi từ lúc trăng chưa lặn, gần hai mươi con voi săn kèm theo một con voi già có đóng bành để chở đồ đạc cần dùng.

Dù đồng cỏ cách làng không bao xa, bác Bun-mi và các quản tượng vẫn đem theo túi đi đường, trong đựng các vị thuốc và tiền của nhiều nước.




Thoạt ra khỏi làng, bầy voi nhà còn đi đủng đỉnh. Rồi quen chân, chúng bước rất mau, chẳng bao lâu đã tới cánh rừng ven đồng cỏ. Từ đó, chúng bắt đầu thận trọng đi chậm lại.

Nhưng khi bác Bun-mi đưa đàn voi đến cửa rừng thì đồng cở đã vắng ngắt. Lũ voi đã bỏ đi. Còn ở lại chỉ có trâu bò và hươu nai, chúng vốn không quen với cuộc sống nay đây mai đó.

Đoàn người sửng sốt. Lũ voi đi đâu? Cái gì đã xua đuổi chúng khỏi nơi này?

Bác Bun-mi chọn ba cỗ voi, cử hai quản tượng và tiểu đội trưởng Hưng đi thăm dò tình hình. Ba cỗ voi đưa ba người trinh sát đi ngang dọc khắp đồng cỏ.

Đến xế chiều, đội trinh sát trở về, đem theo một cặp ngà dài đen sạm.

- Chúng tôi thấy xác một con voi đực to lớn nằm ở giữa cánh đồng. Đôi ngà của nó đây.

Các quản tượng nói với bác Bun-mi rồi cho voi tiến lại, đặt đôi ngà lên đầu con voi của bác.

Bác Bun-mi hỏi tiểu đội trưởng Hưng về tình hình cuộc trinh sát. Hưng trình bày sự phán đoán của anh:

- Bầy Đen bỏ đi về phía nam. Dấu chân hỗn độn dưới núi. Các dấu chân lớn đều có vết trượt, chứng tỏ cả đến những con voi chủ chốt trong bầy cũng đã bỏ chạy. Có lẽ bầy Đen gặp một tai họa khủng khiếp lắm nên mới hoảng sợ như thế.

Bác Bun-mi ôm một chiếc ngà lên, xem kỹ, ngửi mùi khét của nó rồi lại đặt xuống đầu voi. Bác hỏi:

- Anh em có thấy dấu vết gì trên cái xác không?

- Xác đã được bầy Đen lấp kín. Khi bới ra, thấy cái xác có vết cháy đen, chúng tôi đã cho lũ voi nhà lấp lại.

Bác Bun-mi vốn giàu kinh nghiệm. Nghe những lời đó, bác đoán biết ngay được tình hình:

- Con voi chết vì sét. Luồng sét chắc mạnh lắm, cả đến đôi ngà cũng bị cháy sém.

- Phải! – các quản tượng cùng trả lời.

Một bác quản tượng đứng tuổi nhận xét thêm:

- Từ khi bầy Đen xuống đến đồng cỏ, trong vùng ta chưa có làng nào kịp đến đây mở các cuộc săn.

Bác Bun-mi và các quản tượng đã phán đoán đúng. Đêm vừa qua, trong cơn dông tố dữ dội, sét đã đánh vào giữa bầy Đen. Lũ voi non chạy tan tác như một bầy chim sẻ. Một con voi đực to lớn đã chết. Loài voi vốn sợ mọi biến động: chúng sợ đá lở, sợ sấm sét. . . Thế là chúng vội vàng rứt lau cỏ vùi lấp cho con bị nạn và kéo nhau đi sau khi đã tập hợp được đầy đủ lũ voi non.

Chúng bỏ đi trong cơn hoảng loạn, làm các bầy voi khác thấy trơ trụi cũng bỏ đi theo.

Một cuộc họp liền được triệu tập. Các quản tượng và phụ việc ngồi trên đầu voi, thúc chúng đến vây quanh con voi của bác Bun-mi.

Bác Bun-mi trầm trầm hỏi:

- Ta đã mất công theo dấu đến tận đây, bây giờ đi nữa hay trở về?

- Đi nữa! – Các quản tượng cùng trả lơì.

Trời đã gần tối, đoàn người không thể lên đường ngay được. Họ phải ngủ lại ở đồng cỏ. Bác Bun-mi phân công cho mười sáu quản tượng và tám con voi đi kiếm một con bò rừng về làm thức ăn để ăn đường. Người còn lại thì đi vào ven rừng, dọn chỗ ngủ và nấu bữa ăn tối.

Một khoảng đất rộng và cao ở ven rừng được dọn sạch. Rải rác quanh các nệm lá trải làm đệm nằm, họ đốt những cây hương lớn để xua muỗi.

Vài giờ sau các quản tượng đã đưa voi trở về, đem theo một con bò tơ. Mọi người liền xúm quanh con mồi, xả thịt và hong lửa làm thức ăn khô.

Sớm hôm sau đoàn người lại giong voi đi, theo dấu bầy Đen để lại trên đường.

Dấu chân đi tới những cánh rừng phía đông rồi cứ men theo những cánh rừng đó, đi xuống phía nam. Những vết trượt đã mất, các dấu chân không còn hỗn độn. Dần dần hai bên đường đã thấy cành lá bị bẻ gãy làm thức ăn. Bầy voi trở lại bình tĩnh, chúng đã đi chậm lại.

Bác Bun-mi và các quản tượng thúc đàn voi nhà đi nhanh. Con đường này họ từng đi quen, khi có những chuyến hàng chở xuống Cam-pu-chia. Họ mong bắt kịp bầy Đen trước lúc đến biên giới để lùa chúng quay về những đồng cỏ thuộc nước Lào.

Nhưng bầy Đen đã đi xa. Chúng vượt khỏi biên giới trước lúc bác Bun-mi và các quản tượng làng Vông-xay đến nơi.

Bác Bun-mi ra lệnh ngừng lại ở cạnh một làng Khơ-me đầu tiên. Bác cho thả voi ở ven rừng rồi dẫn vài quản tượng có tuổi cùng tiểu đội trưởng Hưng vào làng.

Bác có người quen trong đó.

*

Trời đã về chiều mà nắng vẫn chói chang. Nóng bỏng lưng, chừng như càng xuống phía nam thì nắng càng gay gắt. Những tràn ruộng quanh làng ngập nước phù sa, hơi nóng phả lên hầm hập. Cua bò lổm ngổm đầy bờ nhưng không thấy ai bắt.

Hai bên con đường vào làng, cây cối được mưa tưới đã xanh nhưng phảng phất vẫn thấy màu vàng lửa của mùa khô. Những chiếc xe bò bánh cao tới ngang ngực, chở gỗ về làng, kéo bằng những đôi bò lực lưỡng. Xe lăn khấp khểnh, trục rên cót két. Đám đàn ông đánh xe đều cao lớn, người thì đi bộ, người thì ngồi vắt vẻo trên càng xe. Ai nấy đều cởi trần, tóc xoăn và da nâu bóng, thân quấn chiếc xà rông sặc sỡ.

Đã vào gần bên làng nhưng vẫn thấy im lìm. Mọi người còn đang bận việc ở ngoài rừng nên chưa mấy ai về. Đuờng rợp bóng những cây muỗm cỗ thụ và những hàng thốt nốt. Nhà cửa đều rộng rãi, sáng sủa dựng trên những dãy cột vững chãi. Chúng vẫn mang những dáng dấp của nhà Lào, duy có mái nhà thì dốc hơn. Hàng hiên kẹp những tấm phên thưa đan hoa bằng tre cật vàng xuộm. Nhà nào cũng có những cây hồ tiêu. Chúng leo trên giàn, buông những chùm quả sai chi chít hoặc leo trên những thân cây khác và cố vươn lên để phơi được các chùm quả ra ngoài nắng.

Chung quanh nhà là những cây thốt nốt, cao vượt khỏi tầng cây dưới thấp, trên ngọn xòe một tán lá xanh. Một vài đứa trẻ, ống tre giắt lủng liểng quanh lưng, leo thoăn thoắt lên ngọn cây. Thấy khách lạ đi qua, chúng nhìn xuống gật đầu chào mỉm cười, hàm răng trắng lóa trên khuôn mặt rất nâu.

- Lũ trẻ lấy đường đấy! Bác Bun-mi giảng giải. Đường thốt nốt. Ở vùng đồng bằng sông Nậm-khoỏng của Lào cũng có thốt nốt nhưng lác đác thôi.

Mọi người ngừng lại, ngước nhìn. Bọn trẻ leo đến ngọn cây, rút dao rạch một đầu búp hoa, treo vào đó một ống tre. Đêm nay nước thốt nốt sẽ rỏ vào ống và sớm mai, khi các ống đã đầy, chúng lại leo lên lấy ống xuống cho mẹ canh đường.

Làng vắng vẻ nhưng phía con suốt ngoài rừng thì đông người. Nước suốt ngầu đỏ đất rừng, dâng cao và chảy cuồn cuộc. Nhân lúc tạnh ráo, người làng nô nức mang vó, mang chài ra kiếm cá. Đàn ông đẩy những vó dũi dọc bờ suối, lượt nào nhắc vó lên cũng được cá. Họ quẳng cá lên. Lũ trẻ hò reo, tranh nhau rồi đưa cá cho các cô gái. Các cô đem mổ và gác lên những giàn phơi ghép bằng phên dựng la liệt trên bờ. Bao nhiêu là giàn phơi, đầy cá, trắng xóa ngoài bờ suối. Trên trời, từng đàn chim trả xanh biếc liệng vòng. Chốc chốc lại thấy một con rơi xuống nước như một hòn đá rồi bay vụt lên, mỏ cắp một chú cá con lấp lánh.

Bác Bun-mi đưa mọi người tới một ngôi nhà giữa làng. Nhà rộng, các cửa đều mở, sàn đất quét sạch tinh tươm. Xa xa, dưới bóng một cây muỗm cổ thụ, một con voi đang đứng bên bồn nước. Cũng giống lũ voi ở làng Lào, nó đứng chùng một chân sau, mình đung đưa, thỉnh thoảng lại thọc vòi vào bồn, hít nước phụt lên lưng.

Đây là nhà một người bạn quản tượng Khơ-me mà bác Bun-mi vẫn ghé thăm mỗi khi đi một chuyến hàng xuống miền nam Cam-pu-chia.

Bác Bun-mi và mọi người rửa chân rồi lên thang. Mới lên hết thang, bác đã chào to:

- Chúng tôi ở làng Vông-xay sang thăm nhà ta đây! Ông già Chau Xeng có nhà không?

Chủ nhà vội ra đón họ. Ông bước ra khỏi cửa, tay cài vội mấy nút khuy của chiếc áo đang mặc dở. Cũng như mọi người khác trong làng, ông già cao lớn, da rất nâu. Mái tóc của ông đã trắng, trùm trên khuôn mắt nâu trông càng thêm trắng. Ông quấn một chiếc "xăm pốt" màu gạch non, rất hợp với màu da của ông. Một vạt của chiếc "xăm pốt" được giắt khéo léo ra sau lưng, làm thành một thứ quần lửng đến ống chân, nom rất lạ mắt. Khi ông bước, hai ống quần căng phồng lên, trông như hai ống quần của một người đi ngựa.

Ông già Chau Xeng chắp tay cung kính cúi chào khách rồi đưa mọi người vào nhà.

Một bà già đang ngồi canh đường trong góc sàn. Bà khuấy nhè nhẹ nước thốt nốt trong một chiếc chảo to đặt trên bếp lửa lom đom, làm mùi đường ngọt bay khắp nhà. Bên cạnh bà là những bánh đường vừa đúc xong, nâu quánh và còn nóng hổi, tròn như những chiếc đĩa, chồng từng chồng cao.

Thấy khách vào, bà liền đứng dậy cúi chào. Bà nói bằng tiếng Lào:

- Chào các ông khách! Xin chúc phúc cho các ông!

Người vùng biên giới vốn nói được cả hai thứ tiếng. Bác Bun-mi liền thành thạo trả lời bằng tiếng Khơ-me:

- Chào bà mẹ! Xin chúc phúc cho ông bà!

Ông già Chau Xeng mời khách ngồi xuống sàn, quanh một chiếc mâm đan bằng mây nõn. Bà Chau Xeng đã rụt nhỏ lửa bếp, đến tiếp nước. Bà bày lên mâm cho mỗi người khách một chiếc tách sứ trắng mỏng tang. Bộ tách này bà phải đổi cho lái buôn Hoa kiều mỗi chiếc bằng hai mươi bánh đường thốt nốt. Bà đem đến một bình sành lớn, đựng đầy nước thốt nốt lên men, rót mời khách uống.

Sau vài tuần nước, ông già Chau Xeng hỏi:

- Bác Bun-mi và anh em có việc gì mà ghé qua làng chúng tôi? Lần này anh em chở hàng đi mãi đâu?

- Anh em chúng tôi không chở hàng mà theo dấu bầy voi.

- Theo bầy Đen?

- Phải!

- Chúng vừa đến đây được hai bữa – ông già Chau Xeng vừa nói vừa chỉ về phía một dãy núi. – tôi đã cho người đi thăm dấu. Chúng đang kiếm ăn ở cánh đồng chân núi, cách đây nửa ngày đường. Làng chúng tôi đã báo với các làng xung quanh, cùng mở cuộc săn lớn khi nước lên.

Bác Bun-mi liền trình bày về tình hình của bầy Đen và ý định của người làng Vông-xay rồi nói:

- Làng chúng tôi tặng anh em bộ đội Tình nguyện Việt Nam ba con voi, vì vậy chúng tôi muốn kiếm vài con khác trước khi trao voi cho anh em về đơn vị. Chúng tôi đã có công theo dấu bầy Đen tới đây, xin cho được dự cuộc săn lớn, tốn kém bao nhiêu xin nộp đủ lệ.

- Được! Được! – Ông già Chau Xeng hồ hởi trả lời. – Bầy voi hoang có khác gì lũ chim trời, đỗ lại ở đâu thì thuộc người ở đó. Hôm nay chúng ăn ở đây, chúng thuộc người làng này. Nhưng đến đêm, nếu chúng ngược lên phía bắc, chúng lại thuộc người làng Vông-xay. Cùng anh em ta cả, tiếc gì nhau, nhất là lại bắt voi giúp cho anh em bộ đội tình nguyện Việt Nam. Mời người làng Vông-xay cứ ở lại đây dự cuộc săn lớn.

Sau đó ông già Chau Xeng hỏi ngay:

- Thế anh em bộ đội Tình nguyện có ai sang đây không?

Bác Bun-mi vui vẻ chỉ vào Hưng:

- Đây! Anh em đấy! Học ở làng Vông-xay hơn một năm, nay anh em cũng đã biết nghề quản tượng rồi.

Ông già Chau Xeng quay sang hỏi Hưng đủ chuyện và liên tiếp rót nước thốt nốt cho anh uống. Bà vợ ông, nghe nói có bộ đội Việt Nam cũng vội đến hỏi chuyện.

Một lúc sau, bà thì thầm bàn với chồng rồi đứng dậy chắp tay, tươi cười nói:

- Bữa nay, xin mới khách ăn bữa tối với chúng tôi. Nhà được khách đến đông, thật vui quá!

- Xin cám ơn! – Bác Bun-mi vội từ chối – Anh em chúng tôi đông lắm, còn hơn ba mươi người nữa ở ngoài rừng. Cứ để mặc chúng tôi lo thổi nấu lấy.

Ông già Chau Xeng xua tay:

- Một bữa ăn chứ có nhiều đâu mà lo. Năm nay được mùa, thóc lúa đầy nhà, gà lợn đầy sân, cá khô đầy chum, đừng lo cho chúng tôi.

Bà Chau Xeng liền ra ngoài suối gọi con đưa cá tươi về làm cơm. Họ bắt gà, làm chúng vừa chạy vừa kêu nhao nhác dưới sàn.

*

Mưa liên miên. Ngày nọ tiếp ngày kia, cứ đến chiều là trời lại đổ mưa. Gió vật vã và mưa trút ào ào, trắng cả trời đất. Những con suối dưới các chân núi tràn ngập các bơ đá̀ chảy xối về đồng cỏ.

Mọi loài thú đều đã bỏ đi trốn nước. Bọn hươu nai ra đi từ những cơn lũ đầu tiên. Rồi đến các bầy bò và cuối cùng là những bầy trâu chậm chạp. Ở cánh đồng chỉ còn bầy Đen. Chúng đã qua cơn kinh hoàng, thả sức ăn no tắm mát. Chốc chốc, mấy chục đầu voi lại đua nhau rống những hồi dài vì khoan khoái.

Nhưng khi nước từ bốn phía tuôn về đồng cỏ, rềnh lên đến khoeo chân thì bầy Đen bắt đầu lo ngại. Chúng kéo nhau ngược lên phía bắc, định trở về những cánh đồng của nước Lào.

Nhưng lối về của chúng đã bị chặn. Đoàn người của bác Bun-mi, được người địa phương giúp sức, đã dựng chục chòi rình trên những ngọn cây cao. Đàn voi của làng Vông-xay cùng mười con voi bạn đứng dàn hàng trên các lối xung yếu.

Ở các ngả khác, đường cũng đã bị bịt kín bởi hàng chục voi nhà và người của các làng lân cận.

Thoáng thấy bầy Đen từ xa đi tới, bác Bun-mi đã nổi hiệu báo động. Trống, mõ, chiêng, tù và nổi liên hồi. Mọi người vừa gõ vừa la hét. Bầy Đen hốt hoảng quay lại.

Nước mỗi lúc một dâng cao. Từ khoeo chân, nước ngập dần đến bụng. Thế mà từ bốn phía, người và lũ voi nhà vẫn nườm nượp kéo đến. Bầy Đen càng kinh hoàng. Chúng lại lội lên phía bắc.

Nhưng lần này bầy voi tinh khôn không xông đến ngay. Chúng lởn vởn ở ngoài xa, chờ đêm xuống, lợi dụng bóng tối để chọc thủng vòng vây.

Bác Bun-mi thừa biết mưu mẹo của chúng. Khó lòng mà có thể ngăn cản được bầy Đen trong bóng tối. Vì vậy, đêm vừa xuống, bác Bun-mi đã cho lệnh đốt đuốc. Ở các chòi canh và các ngả đường, hàng trăm cây đuốc cùng cháy bừng bừng. Đuốc gài trên thân cây, buộc trên các ngọn sào dài trong tay quản tượng. Từng đợt, từng đợt, khi có lệnh, trống mõ, tù và cùng tiếng la hét lại nổi dậy trời.

Mặc, bây Đen vẫn xô tới. Chúng lao lại như những khối đá, ngà chĩa thẳng, vòi cuộn lại và đưa lên cao, sẵn sàng bung ra. Các quản tượng gí những ngọn đuốc cháy rần rật vào đầu chúng. Nhựa đuốc bám vào da thịt chúng, cháy xèo xèo. Những cái vòi quật vun vút. Nhựa liền bay đi từng đám, cháy rực và rơi lả tả như mưa sao. Nhiều người đốt những tràng pháo dài dặc, buộc trên sào, quay tròn trên đầu. Từ trên cành cây rất cao, những người khác xỉa những sào tre dài, đầu vát nhọn vào vòi lũ voi hoang.

Bầy Đen tổ chức hàng chục cuộc phá vây nhưng họa hoằn mới thoát được một con. Cuối cùng chúng phải trở lại đồng cỏ, biết rằng không thể làm gì được với lũ người can đảm và dai dẳng này. Chúng tìm đến nấp ở các gò đất, dưới những bụi lau rậm rạp.

Đến sáng sớm, trên các bờ cao, lưng voi nhà hiện ra la liệt. Tất cả đều không đóng bành, mỗi con mang hai ba người trên đầu. Người nọ ngồi xổm sau lưng người kia, ai cũng cầm những cây sào dài nhọn hoắt.

Càng ngày người và voi nhà kéo đến càng đông. Vòng vây khép lại, trùng trùng điệp điệp. Lũ voi nhà cứ ba con đứng thành một khối, vững chắc như một pháo đài. Chúng cũng lầm lì và dai dẳng chẳng kém gì người.

Đồng ngập nước trắng xóa, chỉ còn nổi lên những ngọn cây bị nước cuốn vật vờ. Những bờ lau chơ vơ như những hòn đảo cũng đang chìm dần. Lũ voi của bầy Đen trốn trong đó, nước ngập đến lưng. Chúng đã bắt đầu phải cong vòi lên để thở.

Người trên bờ không trông thấy chúng, nổi pháo hiệu hỏi các chòi canh. Các chòi gần xa đều nỗi pháo trả lời. Nghe pháo nổ, từng đàn cò ngà kiếm ăn trên lưng voi xao xác bay lên. Thế là bầy Đen bị lộ.

Lũ voi vẫn tưởng chúng trốn kỹ lắm, chẳng ai nhìn thấy. Chúng không bỏ đi, cứ đứng im lìm trong các bờ lau, chờ cho nước rút. Nhưng nước cứ dâng cao mãi. Nước ngập ngang lưng rồi ngập lút đầu. Lũ voi của bầy Đen vẫn đứng im, cố thò vòi lên khỏi mặt nước. Một vài con bị sặc, phun phì phì lên trời những tia nước lập lánh.

Cuối cùng nước lút bờ lau, ngập đến mỏm vòi của lũ voi non. Thế là bầy Đen đành nổi lên, con nọ tiếp sau con kia. Voi mẹ rống lên rền rĩ, voi con gào sặc sụa. Cả bầy vùng vẫy tuyệt vọng giữa khoảng trời nước mênh mông. Rồi vì mệt lử, chúng bơi dần vào bờ.

Lúc này các quản tượng mới ra tay. Họ thúc voi nhà xua bầy Đen bơi ra. Lũ voi nhà ngừng lại khi nước ngập đến ngang lưng. Chúng cũng cuộn vòi lên cao để thở. Còn các quản tượng, sau khi đã xua được bầy Đen ra xa, vừa chuyện ran vừa khoan khoái khỏa chân xuống nước.

Từ trong các bờ bụi, thuyền lao ra như lá tre. Hàng trăm con thuyền độc mộc, khóet bằng những cây gỗ lớn, hai đầu vát nhọn và hai bên sườn đeo hai dãy ống bương để khỏi bị lật sấp khi qua các xoáy nước. Mỗi thuyền có một người lái và hai người chèo. Thuyền lướt vun vút, đứng đầu mũi là người phóng lao. Người này chỉ mặc một manh quần cộc, da nâu bóng như sành, vạm vỡ, tay cầm một mũi lao có ngạnh buộc vào một dây xích. Trong sạp thuyền dưới chân anh ta còn ba bốn mũi lao buộc xích khác nữa.

Ở phía bác Bun-mi, hai chục con thuyền lướt đến bên bầy voi của làng Vông-xay. Các quản tượng trao đòng cho người phụ việc rồi mỗi người nhảy xuống một thuyền, cầm lấy ngọn lao và đứng ở đầu mũi.

Bầy Đen vì quá hoảng sợ, bơi tản mác mỗi con mỗi ngả. Cứ ba bốn thuyền họp thành một nhóm, mỗi nhóm vây lấy một con.

Nhóm thuyền của bác Bun-mi đuổi theo một con voi đực. Con vật còn non tơ, béo tốt, cái lưng nần nẫn của nó hiện thấp thoáng dưới làn nước. Cặp ngà đang độ lớn của nó vướng đầy rêu, trở nên xanh biếc. Đầu nó cúi xuống nhưng cái vòi thì vẫn uốn cong lên cao và thở phì phì. Khi thấy thuyền lướt tới, nó quật vòi tung tóe.

Con vật rất dũng cảm nhưng quá vụng dại trước mưu mẹo và vũ khí của con người. Người lái liền lái cho thuyền lạng đi, tránh cái vòi đang quật. Đợi cho thuyền đỡ tròng trành, bác Bun-mi ngả người ra phía sau, lấy hết sức phóng ngọn lao.

Lao bay đi, kéo theo dây xích loảng xoảng, cắm vào vai con vật. Nó rống lên vì đau. Bác Bun-mi phóng một mũi lao nữa. Lao xuyên qua tai con vật rồi mắc ngạnh. Một chiếc thuyền khác bơi vút sang bên kia. Lao lại phóng. Cái tai còn sót của con vật bị xuyên nốt.

Bác Bun-mi và các quản tượng rải xích, bơi thuyền đi. Thoạt đầu con voi còn vùng vẫy chống cự nhưng rồi vì quá đau, nó đành phải bơi theo thuyền.

Trong khi đó, cuộc săn bắt vẫn diễn ra sôi sục. Mặt nước bao la cuộn sóng. Tiếng gào thét, tiếng kêu gọi rợn người. Hàng chục con voi của bầy Đen đã bị bắt. Nhưng có nhiều con không chịu khuất phục, giằng xích, cổ và tai rách bươm lõa máu, kéo thuyền lật sấp. Chúng bơi vào bờ, rống những tiếng xé không khí, hung hãn leo lên rồi đeo những mũi lao và dây xích trên mình, chạy vào rừng.

Những thuyền bị lật trôi vật vờ trên mặt nước. Người ngã xuống loi ngoi, kêu cứu. Các thuyền khác vột lướt tới trong lúc lũ voi già căm hờn cố bơi nhanh lại để trả thù.

Bác Bun-mi cho thuyền giong con voi vào gần bờ. Thuyền áp vào gần một cây cổ thụ, ngập nước tới chạc giữa. Bác Bun-mi chọn một cành to, treo ngược ba dây xích lên.

Ở những cây cổ thụ kề bên, các thuyền lần lượt đem voi tới xích. Voi nào chỉ mắc ngạnh một tai thì bị chọc thêm một mũi lao nữa vào tai bên kia và cả hai dây xích đều bị buộc lên cành cây.

Hơn một phẩn ba bầy Đen đã bị bắt. Trừ lũ voi già và voi con không bị săn đuổi, trừ dăm ba con voi đực dữ tợn giằng được xích, hàng chục đầu voi bị dẫn đến buộc rải rác dưới các vòm cây.

Lũ voi phải bơi liên tục mới khỏi chìm. Bị bỏ đói, lại phải bơi suốt ngày, con nào cũng mệt lử. Cái đói và cái mệt làm chúng đỡ hung hãn. Không con nào còn sức để đập phá. Có con phải vươn vòi, cuốn chặt lấy cành cây, giữ cho mình khỏi bị nước cuốn trôi.

Hôm sau, các quản tượng đi thuyền tới, dòng dây song dưới bụng chúng. Họ buộc dây lên những chạc cây chắc chắn, làm cái võng giữ cho chúng khỏi phải bơi. Con nào cũng thả mình trên võng vì đã quá mệt.

Nước rút tới đâu, các quản tượng nới dây thả chúng xuống tới đấy. Đến khi nước rút hết, họ đưa voi nhà tới, cứ năm con kèm một chú voi hoang. Bị bỏ đói lâu ngày, lũ voi rừng hầu như đã kiệt sức. Chỉ nhấc chân lên mà chúng cũng đã thấy mệt. Nhiều con thở dốc như đứt hơi. Bị xô đẩy giữa những cặp ngà nhọn hoắt, giữa những cái vòi chắc nịch của lũ voi nhà no nê và khoẻ khoắn, chúng lảo đảo bước về làng.

Đoàn người của bác Bun-mi bị mất một chiếc thuyền trong cuộc săn, nhưng bắt được một voi đực và một voi cái, đều còn non. Khi nước rút, một con voi ba tuổi lạc bầy, thấy con voi cái liền lẽo đẽo đi theo. Thế là đoàn người làng Vông-xay bắt được cả thảy ba voi rừng.

Ông già Chau Xeng và người các làng dành cho họ tất cả mồi săn không bắt họ phải chia phần. Tuy vậy bác Bun-mi vẫn nộp lệ phí và tặng quà cho họ. Bác nộp năm trăm đồng "riên", một chiếc chiêng Lào cỡ lớn, một cây đòng Vông-xay cho mỗi đầu voi mà đoàn của bác bắt được.

Bác còn bồi thường hai trăm đồng "riên" cho người chủ thuyền và tặng cho mỗi đầu voi năm trăm đồng "kíp" để các quản tượng bạn có tiền tiêu khi họ có dịp qua đất Lào.

Ông già Chau Xeng thay mặt người làng nhận quà. Ông trả lại cho bác Bun-mi tất cả số tiền "riên" và hồ hởi nói:

- Anh em cho chiêng, đòng và tiền Lào là quý lắm rồi. Bao giờ người làng chúng tôi qua Lào là đã có tiền tiêu chơi. Nhưng còn tiền "riên" thì trả lại để anh em có tiền tiêu khi qua bên này. Còn cái thuyền thì không bắt đền, người làng sẽ kiếm thuyền khác trả cho người chủ bị mất.

Bác Bun-mi đành nhận lại số tiền "riên". Đoàn của bác còn ở chơi dự hội liên hoan và những buổi tiệc mừng săn. Mấy hôm sau, khi hội đã tàn, họ mới từ biệt ông già Chau Xeng và người các làng, vui vẻ lên đường, đưa theo lũ voi vừa bắt được trở về làng Vông-xay.


*

Lũ voi hoang được buộc dưới những gốc muỗm ở giữa bãi voi làng. Các quản tượng dắt tới ba con voi cái lớn tuổi, buộc mỗi con cạnh một con voi mới, làm mẹ đỡ đầu cho nó.

Con voi cái sống với con voi non suốt thời kỳ rèn dạy. Nó dùng vòi vuốt ve hoặc ngăn trở các hành động bực bội của con voi hoang, vừa làm vừa bền bỉ rống khe khẽ như có ý bảo: "Đừng làm dữ! Cuộc sống ở dưới làng cũng dễ chịu, rồi con sẽ thấy!"

Đêm đêm, lũ voi mới về vẫn thổn thức gọi bầy. Cuộc sống dưới làng đối với chúng xa lạ quá!

Mới đầu những con voi sống sót trong cuộc săn còn văng vẳng trả lời từ trên các triền núi. Nhưng rồi bầy bỏ đi xa: chúng cũng phải đi tìm ăn. Mấy đêm sau lũ voi non vẫn rống gọi, những tiếng rống trở lại nên rụt rè vì chúng không còn thấy bầy cũ trả lời. Từ đó chúng lặng im.

Không bị đánh đập, được ăn uống no đủ, lại được săn sóc, lũ voi hoang cũng khây khỏa và quen dần hơi người. Chiều chiều chúng đã được tháo xích, theo mẹ nuôi đi tắm. Chúng thong thả đi ra bờ sông, giữa đàn voi nhà đông đúc. Thấy sinh hoạt đã trở lại bình thường, cũng như các voi khác, chúng khoan khái hít nước tia lên lưng. Con nào cũng đằm mình thỏa thích và khi tiếng trống báo chiều tàn nổi trên làng thì chúng nhỏm dậy, giỏng tai lên lắng nghe rồi rống từng hồi, luyến tiếc.

*

Mùa hè trôi nhanh qua. Đã chấm dứt những đêm mưa tầm tã, chấm dứt những ngày nóng bỏng, nắng chói chang và hầm hập gió Lào. Trời sang thu se lạnh, trong veo. Những dây lạc tiên trên bờ giậu đã rụng hết hoa và điểm lá vàng. Các đồi gianh quanh làng cũng vàng hoe một màu dịu mát của nắng chiều. Đàn chim di cư sớm đã từ phương bắc bay tới. Đêm đêm, khi bay qua làng, nhìn thấy những vầng lửa bếp hắt ra ngoài các khung cửa, chúng bỗng kêu lên lanh lảnh giữa trời.

Đã đến lúc anh em bộ đội Tình nguyện Việt Nam phải trở về. Làng Vông-xay tổ chức ngày hội quản tượng, vừa để trao voi và trao cây đòng cho anh em, vừa để đưa tiễn anh em lên đường.

Từ mấy hôm trước, làng bản đã nhộn nhịp, tưng bừng. Mọi người tấp nập chuẩn bị. Sớm ngày hội, bác Bun-mi lấy bộ lễ phục lâu nay bác vẫn cất kỹ trong hòm. Bác mặc sang như một quản tượng ở kinh đô: áo cánh trắng tinh với hàng khuy đồng vàng chóe cài đến tận cổ, quấn bên ngoài quần chiếc "phá sà lùng" bằng lụa óng ánh đủ màu mua từ bên nước Thái. Bác Thao Phêng và các quản tượng khác cũng đều xúng xíng áo mới, "phá" mới còn hằn nếp gấp, dép bằng da cá sấu loẹt quẹt dưới chân. Đám phụ nữ còn ăn mặc rực rỡ hơn: những chiếc trâm bạc chạm đá quý lấp lánh trên đầu, khăn tơ mềm quàng chéo ngực, thắt lưng bạc sáng ngời ngang lưng.

Bác Bun-mi và đoàn quản tượng dẫn anh em bộ đội tình nguyện tới dự các cuộc vui. Theo sau họ là đám đông trẻ nhỏ: Chăm-pa, Khăm-phay và bè bạn của chúng. Các chú bé đều mặc áo quần ngắn nhưng bọn trẻ lớn thì cũng áo cánh trắng, "phá sà lùng" lụa, đĩnh đạc chẳng kém gì các quản tượng.

Ngày hội mở đầu bằng một cuộc thi pháo. Gia đặt́ pháo ghép bằng tre ngà nhẵn bóng đặt thành một hàng dài trước sân chùa. Trên mỗi giá, đặt một ống lệnh bằng tre cật đựng đầy thuốc nổ, chung quanh bó chặt bằng dân mây để tức hơi, nổ cho vang.

Theo lệnh của bác Bun-mi, những người dự cuộc thi lần lượt châm ngòi. Khi ngòi bắt đầu cháy xì xì, các cô gái hồi hộp đưa tay lên bịt tai và đứng sát vào nhau. Pháp nổ dậy đất, phun một đám khói lam mù mịt. Giá pháo lung lay, ống lệnh vỡ tung, tre và dây mây bị tước ra như xơ. Tiếng nổ làm các cô gái giật bắn lên trong lúc các quản tượng thì thích chí, thi nhau cười ha hả.

Sau khi đốt hết các ống lệnh, trai làng đặt pháo thăng thiên lên giá. Các pháo thăng thiên được quấn những dải vải nhiều màu để bay cho đẹp mắt. Mỗi chiếc còn mang kèm hai ống sáo như sáo diều, một chiếc giọng thấp, một chiếc giọng cao.

Ngòi cháy, pháo bay lên, phụt một vệt dài lửa và khói sau đuôi. Đôi sáo liền kêu những tiếng vi vui trầm bổng. Mọi người đang ồn ào, vội im bắt để lắng nghe. Pháo mang theo những dải vải màu phấp phớp, bay vún vút, dần dần chỉ còn là một chấm nhỏ trên bầu trời bao la, phải nheo mắt mới nhìn thấy. Tiếng sáo cũng nhỏ theo, chỉ còn thoang thoảng như tiếng gió khi đã lên hết tầm rồi bỗng văng vẳng to dần và càng vi vui hơn khi pháo rơi. Có những chiếc pháo gắn cả một giàn năm sáu ống sáo. Chúng không bay được lên cao tít tắp nhưng ngân vang những hợp âm réo rắt như cây "khèn" Lào đang trong khúc nhạc dạo đầu.

Thi pháo xong, bác Bun-mi đưa các chiến sĩ ra ngoài sông dự cuộc thi thuyền.

Một chục thuyền đua đã đợi sẵn trên bờ. Thuyền đua cũng vẫn là những chiếc thuyền độc mộc nhưng thon và dài, mũi và đuôi đều cong vắt. Mỗi thuyền có chỗ ngồi cho hai mươi tay chèo. Mọi người đều cởi trần, tay nắm chèo, mình đầy bắp thịt.

Tiểu đội trưởng Hưng xin phép bác Bun-mi cho các chiến sĩ cùng dự cuộc vui. Họ chia nhau xuống các thuyền, ngồi lẫn với trai làng.

Các thuyền sắp thành một hàng ngang trên mặt sông. Người chỉ huy đứng ở mũi thuyền. Mọi tay chèo đều sẵn sàng. Ai nấy đều đăm đăm nhìn bác Bun-mi chờ lệnh.

Bác Bun-mi nhặt dùi trống và dang rộng tay. Dưới thuyền, trai tráng nhổm cả lên, sẵn sàng.


Dùi vừa chạm mặt trống, hàng trăm mái chèo cùng chọc cả xuống sông và bắt đầu khoát nước. Bác Bun-mi thúc trống dồn dập, chèo càng khua nhanh, nước bạc bắn lên lấp lánh. Người chỉ huy đứng ở mũi thuyền, cúi lom khom, băm hai tay vào không khí, miệng la hét thúc trai làng chèo cho nhanh và ăn nhịp. Thuyền lướt băng băng, trong lúc trên bờ tiếng hò reo và chiêng trống thúc ầm ĩ.

Sau cuộc thi thuyền mọi người đi dự các cuộc thi võ, đấu lao, đấu gậy, bắn ná, đua voi và cưỡi ngựa bắt dừa.

Một quả dừa mới hái, bôi mỡ bóng nhoáng đặt trên một khúc gỗ cao ngang tầm thắt lưng, bên dưới là những chùm dừa bó từng ba quả một làm giải thưởng. Trai làng dắt đến những con ngựa Lào nhỏ nhắn nhưng nhanh thoăn thoắt và rất dai sức. Người nọ tiếp theo người kia, từ ông già, người trẻ cho đến những chú bé đứng chưa đến vai người lớn thi nhau nhảy lên mình ngựa. Họ nằm rạp trên lưng con vật, không yên không cương, điều khiển nó bằng tai và bờm, phi vút qua, cố ôm lấy quả dừa.

Các chiến sĩ cũng dự cuộc đua nhưng chẳng ai được thưởng: quả dừa trơn tuột, mới chạm phải đã truồi trong tay họ và lăn đi xa. Nhưng đối với người làng Vông-xay thì lại khác. Họ như sống từ thuở nhỏ trên lưng voi, ngựa. Họ thúc ngựa phi vừn vụt, nằm sát ngực trên mớ bờm dài và khi ngựa lướt đến khúc gỗ thì họ bỗng dùng hai chân kẹp chặt mình con vật, vươn người ra, lạng đi, hai tay hất quả dừa lên ngực và bắt chặt lấy.

Rồi họ kìm ngựa giữa tiếng hò reo, quay lai, thong thả đặt quả dừa bôi mỡ lên chỗ cũ. Sau đó, họ tự nhặt một túm dừa làm giải thưởng, trao ngựa cho người khác rồi rút dao phát núm dừa đến mời anh em bộ đội cùng uống.

Đợi cho các chiến sĩ uống xong, người chủ cuộc vui đến xoa thêm mỡ lên trái dừa và liền sau đó, một con ngựa khác lại phi tới.

Cuộc vui cứ thế kế tiếp nhau, kéo dài đến trưa.

Sau khi bữa rượu liên hoan đã tàn, làng Vông-xay làm lễ trao voi cho các chiến sĩ.

Ba con voi Bạc-heng, Bạc-mày và Sao-nọi được tắm rửa sạch bóng, trang sức thật lộng lẫy. Hai con voi đực, mỗi con đeo sáu cặp vòng bạc lấp lánh ở đôi ngà. Còn Sao-nọi vì không có ngà, được bác Thao Phêng kẹp cho hai mảng lá đồng lấp lánh ở hai tai. Cả ba con voi cùng mang ngù hoa trên đầu, má bôi sơn thành những hình như một tấm thổ cẩm. Chúng quàng ở cổ một dây hoa rừng đủ màu sắc và nhưng chiếc lục lạc sáng ngời. mang trên lưng những tấm đệm sặc rỡ đầy tua xanh đỏ.

Theo mỗi bước chúng đi, dây tua rung rinh và lục lạc lanh lảnh reo vui. Chừng như biết được vẻ đẹp của mình, lũ voi trở nên vui vẻ khác thường. Chúng hít hơi bất cứ những ai lại gần chúng, khẽ cọ cái vòi nham nháp vào họ và chớm chớp cặp mắt nhỏ một cách sung sướng. Bác Bun-mi, bác Thao Phêng cùng các quản tượng trịnh trọng giong chúng ra bãi voi làng trong nhịp khèn dìu dặt của hàng chục trai làng. Họ buộc mỗi con cạnh một chiếc bàn, trên có để một cây đòng sáng loáng và một kẹp lá dài như lá cọ. Đó là tập lá "bay lan", một thứ lá bền dai và mịn bóng, có rất nhiều trong các rừng Lào.

Từ bao lâu nay, "tiểu sử" của lũ voi nhà được người các làng voi ghi trên lá "bay lan" để truyền lại từ đời ông cha đến đời con cháu. Không phải người làng voi thiếu giấy nhưng họ đã quen dùng thứ lá rừng này từ ngàn xưa vì chỉ có nó mới giữ được bền, thích hợp với đời sống dài lâu của loài voi.

Bác Bun-mi lần lượt dẫn các chiến sĩ tới chỗ từng con voi, trước hết đến chỗ Bạc-heng. Bác đưa tập lá "bay lan" để trên bàn cho tiểu đội trưởng Hưng đọc.

Tập lá ghi con Bạc-heng bao nhiêu tuổi, về với người trong trường hợp nào, thái độ ngang tàng của nó sau cuộc săn bắt khi nó chưa quen với đời sống dưới làng. Tiếp đó, tập lá chép lại sự thay đổi tính nết của con voi, tên các quản tượng từ người rèn dạy đầu tiên đến những người thường đưa dắt nó trong các chuyến đi.

Những trang lá "bay lan" tiếp sau dành để ghi công trạng mà Bạc-heng đã giúp cho làng Vông-xay. Những trang ấy dài dằng dặc. Con voi đã dự hàng chục cuộc săn lớn, cứu người hai lần, bị thương ba lần, từng thồ hàng đi xa hơn một trăm chuyến và phá hoang cho làng Vông-xay mấy chục khoảnh ruộng và nương rẫy. Gần đây con Bạc-heng còn theo lũ voi làng đi chở súng đạn và lương thực cho bộ đội Ít-xa-lạ. Đó là những công việc vẻ vang, người ta ghi lại trong tập lá "bay lan" bằng những hàng chữ lớn.

Bác Bun-mi giở tập lá "bay lan", lấy cây kim nắn nót trích một hàng chữ to, viết tiếp "tiểu sử" của con Bạc-heng: "Hôm nay là ngày. . . tháng. . . năm. . . người làng Vông-xay tặng con Bạc-heng cho anh em bộ độ tình nguyện Việt Nam. Vậy viết giấy này làm bằng, trao con Bạc-heng cho các chủ mới".

Khi bác viết xong, một cô gái xinh đẹp bưng một chiếc khay tới, trên khay có một bát mực đen và một bát vỏ trầu. Bác Bun-mi lấy mực xoa vào hàng chữ, đợi cho khô rồi lấy một dúm trấu xát lên lá. Thế là hàng chữ đẹp đẽ nổi lên, đen nhánh trên nền lá đã được lau sạch mực.

Sau đó bác Bun-mi lại đưa các chiến sĩ đi viết tiếp trên những tập lá "bay lan" của Sao-nọi và Bạc-mày. Sau khi viết xong cho con Bạc-mày, bác vỗ vào vòi nó và nói với đàn voi:

- Các con về ở với anh em cho vui vẻ nhé! Đừng luyến tiếc mãi làng Vông-xay nhé! Ở với anh em, các con sẽ được săn sóc cẩn thận, được đi mọi nơi, khác nào ngày xưa các con từng theo bầy đi lại khắp chốn núi rừng. Các con sẽ làm được nhiều việc có ích hơn khi còn ở làng ta.

Nói đến đây, bác Bun-mi mủi lòng quay đi, thì thầm:

- Ta biết, rồi các con nhớ làng Vông-xay lắm! Nhất là cái con Bạc-heng ấy, thế nào nó cũng bỏ ăn bỏ uống mất thôi. Cái con Bạc-heng là ta biết tính nó lắm. . .

- Con Sao-nọi thì cũng thế thôi – bác Thao Phêng bùi ngùi nói theo. – Có khi nó bỏ cả tuần đấy. Những ngày nó bỏ ăn, ai Sơn cho nó thêm vài bánh đường, bồi bổ cho nó nhé. Đừng quên mà nó gầy đi. . .

Bác Bun-mi đứng lặng hồi lâu rồi tần ngần nói với các chiến sĩ:

- Lẽ ra tôi chẳng còn điều gì nói thêm với nha em. Anh em đã biết phải đối xử với bầy voi như thế nào rồi. Nhưng đời làm việc của con voi dài lắm, chúng còn có thể làm việc được ba, bốn mươi năm nữa. Rồi anh em sẽ già đi, một lớp quản tượng mới sẽ thay anh em. Lúc đó đừng quên dặn lại họ những điều mà anh em đã từng biết.

Tiểu đội trưởng Hưng năm lấy hai tay bác Bun-mi trong hai tay anh, lắc mãi:

- Bác ơi, chúng tôi hứa làm đúng lời bác dặn. Chúng tôi và những người sau này thay thế chúng tôi sẽ hết lòng quý trọng bầy voi, coi bầy voi như đồng đội của mình.

Bác Bun-mi từng thấy các chiến sĩ chăm lo giúp đỡ cho nhau, từ trong công việc cho tới lúc ăn ngủ, ốm đau. Bác đã hiểu tình đồng đội là thế nào.

Sau khi dặn các chiến sĩ, bác Bun-mi dắt họ cùng đứng lên một bục gỗ. Bác xua tay cho mọi người yên lặng:

- Bà con làng Vông-xay! tôi xin thay mặt bà con, trao ba con voi này cho anh em bộ độ tình nguyện Việt Nam.

Bác trao ba tập lá "bay lan" và ba cây đòng cho các chiến sĩ.

- Cặp sách và cây đòng để điều khiển chúng đây, anh em hãy nhận lấy. Từ nay đàn voi không còn xa lạ nữa, chúng là những người thân của anh em. Mong rằng đàn voi sẽ giúp anh em được nhiều việc, cùng với anh em lập được nhiều chiến công.

Các chiến sĩ ôm tất cả những thứ đó vào lòng. Tiểu đội trưởng Hưng sôi nổi nói:

- Bộ đội Tình nguyện cám ơn bà con làng Vông-xay. Bà con đã tặng anh em những món quà rất quý, giúp anh em hoàn thành nhiệm vụ. Anh em sẽ nỗ lực cùng bà con đánh đuổi Pha-lăng, dù phải hy sinh cho nền độc lập của hai nước Việt Lào cũng không tiếc.

Người làng Vông-xay vỗ tay hò reo. Những người trong dàn nhạc thì đập bung bung lên mặt trống để hoan nghênh các chiến sĩ.

Đợi cho tiếng hò reo đã ngớt, bác Bun-mi nói tiếp:

- Anh em phải luôn gửi tin cho làng Vông-xay nhé. Nếu anh em và đàn voi mà lập được chiến công thì phải gởi ngay tin về. Bao giờ có dịp thì giong bầy voi cho chúng về thăm làng cũ.

Nói xong, bác đến bên từng con voi, ra lệnh cho quản tượng tháo xích khỏi chân nó. Phường nhạc nổi nhạc. Trống vỗ bập bùng hòa với âm thanh dập dìu của những cây khèn và những chiếc đàn thuyền.

Bác Bun-mi trầm trầm cất giọng hát:

Phỉ phui!

Cái xiềng cái xích

Đem vứt xuống sông

Cho voi thong dong

Về theo chủ mới



Lũ voi sung sướng đạp đạp những cái chân đã được tự do trong lúc các quản tượng đi theo bác Bun-mi gõ loảng xoảng vào đống xích và cùng hát theo.

Voi đừng ngại núi

Voi đừng ngại rừng

Theo chủ lên đường

Voi đi đây đó.

Đường xa, gian khổ

Có chủ voi thương

Chớ quản nắng sương

Hết lòng hết sức. . .

Vào lúc đó, các cô gái làng Vông-xay mang đến cho lũ voi những thức ăn ngon, thiết đãi chúng lần cuối cùng.

Thật là một bữa tiệc to: mỗi con được hai mươi miếng đường đen, mười quả bí đỏ, một trăm bắp ngô cùng cùi và nước của hai mươi quả dừa. Đàn voi quơ vòi lên khi nhận quà. Rồi con nào cũng vội vã hít thức ăn, đưa vào mồm nhai ngon lành.

Khi chúng ăn xong, các chiến sĩ đóng bành, mời người già và tất cả lũ trẻ cùng các cô gái trong làng lên lưng voi. Người ngồi chật ních ba chiếc bành. Nhiều người không có chỗ, phải đứng lên lưng voi, tay nắm lấy khung bành, hoặc ôm lấy lưng người đứng trước.

Các chiến sĩ cho voi đi diễu quanh làng mấy vòng. Đàn voi bước hăm hở, vòi đung đưa, tai không ngừng quạt quạt trong lúc lũ trẻ và các cô gái vỗ nhịp vào bành, hát vang:

Cái xiềng các xích

Đem vứt xuống sông

Cho voi thong dong

Về theo chủ mới…


Chưa bao giờ làng Vông-xay vui như trong những ngày ấy! Trừ mấy bữa ăn, hầu như lúc nào cũng thấy mọi người ở ngoài bãi hội. Thế mà vẫn chưa đủ. Buổi tối, sau lễ diễu voi, người làng còn tổ chức một đêm "lăm vông".

Ba bốn chục cây nến trám to bằng bắp tay được buộc chéo trên những chiếc gậy cắm ở giữa bãi. Bãi hội thật huy hoàng. Nến cháy rực, tỏa khói và tỏa mùi nhựa thơm ngào ngạt.

Từ những ông bà lão già nua đến các em bé mới chập chững biết đi, tất cả cùng tới dự tối vui chia tay. Các cô gái lại thay quần áo mới: họ là những người chủ chốt của đêm hội. Cô nào cũng mặc bộ xiêm áo đẹp nhất, được ướp hoa từ mấy hôm trước nên thơm phức.

Nhạc nổi thâu đêm. Từng đợt, từng đợt, các cô gái múa theo tiếng nhạc, nhịp nhàng đi đến trước mặt các chiến sĩ, đứng lại, buông tay và cúi đầu mời. Sống ở làng Vông-xay, từng dự biết bao đêm vui nên các chiến sĩ ai mấy đều đã múa quen. Họ vui vẻ nhận lời mời, múa với các cô gái hết đợt này đếng đợt khác.

Hôm sau, lũ voi được các quản tượng đóng bành và dẫn đến nhà bác Bun-mi từ sớm. Vòng bạc và các đệm tua đã được cất đi, các dấu hóa trang được rủa sạch, chúng lại trở thành những con voi của công việc, của những chuyến đi dài. Chúng phủ phục một hàng ở trước hiên nhà.

Người làng Vông-xay lần lượt mang quà đến cho các chiến sĩ. Họ xúm đông quanh lũ voi, đặt lên bành voi đủ thứ: gạo, thịt, hoa quả để ăn đường, những vật kỷ niệm, từ những bức tượng nhỏ gọt bằng gỗ mun, những chiếc khèn ghép bằng ống sậy, những con dao rừng sắc như nước đến những tấm phá, tấm đệm đầy những đường thêu đẹp mắt. Họ không quên phần cho lũ voi: có gia đình chất lên bành những bó mía đã chặt thành từng tấm, dăm ba nải chuối, vài gói đường phên. Trong lúc chờ đợi các chiến sĩ lên đường, nhiều người cho chúng ăn. Họ vừa âu yếm đưa thức ăn lên mồm chúng, vừa thì thầm với chúng những lời cuối cùng.

Khi lũ voi đứng dậy thì đám người trở nên ồn ào. Mọi người lưu luyến chào những kẻ ra đi và cố nói to để lời chúc của mình được nghe thấy. Lưu luyến hơn cả là các cô gái, các em nhỏ, là Khăm-phay, Chăm-pa. Thế là các chiến sĩ đi rồi, làng bản lại vắng. Các buổi trưa lại trống trải, buồn tênh. Nhưng chẳng thể giữ họ ở lại được: công việc đang chờ họ.

Khăm-phay dặn, giọng lanh lảnh nổi trên tiếng chào của mọi người:

- Trông con voi của nhà em cẩn thận nhé! Phải đưa nó về thăm em luôn đấy.

Cô bé Chăm-pa hỏi:

- Bao giờ các anh đưa đàn voi về thăm làng Vông-xay?

- Mùa me sang năm nhé! – Các chiến sĩ tươi cười, hẹn.

Cô bé nhớ lại những buổi ăn chua và những câu chuyện từng đem đến cho cô và các bạn của cô bao điều kỳ lạ. Cô hớn hở nói:

- Nhớ đấy! Mùa hè sang năm mời trở lại ăn chua và kể chuyện đường xa.

*

Bác Bun-mi, bác Thao Phêng cùng các quản tượng làng Vông-xay giong ba con voi, tiễn các chiến sĩ lên đường.

Bấy giờ là mùa thu năm 1948. Pha-lăng đang mở những trận càn quét để ngăn chặn các cuộc tiến công thu đông của bộ đội Ít-xa-lạ và bộ đ Tình nguyện. Con đường cũ không đi được nữa, những người quản tượng đưa các chiến sĩ đi về phía đông. Họ dẫn các chiến sĩ lên tận con đường của các bầy voi hoang rồi mới trở về.

Con đường rộng lớn ấy chạy dài suốt dọc Trường Sơn. Các chiến sĩ chỉ việc theo đường, ngược lên phía bắc để trở về căn cứ.

Có lũ voi, đường về không còn gian nan như khi vượt Trường Sơn với ông già Cao. Suốt ngày, họ ngồi gà gật trên bành, mặc cho lũ voi đủng đỉnh bước theo con đường xưa kia chúng từng quen thuộc. Ban đêm, họ ngừng lại bên một bờ suối. Mấy bay địch bay lượn suốt đêm, tìm nhũng đốm lửa giữa rừng. Vì thế các chiến sĩ không ngủ lửa. Họ vun một nệm lá rồi buộc voi chung quanh.

Lũ voi trở lại rừng hoang, đêm đêm đã bớt ngủ. Chúng thức tỉnh, thỉnh thoảng lại vươn vòi lên tìm hơi lạ, trông coi giấc ngủ cho người.

Đường về trót lọt nhưng các chiến sĩ đều không vui. Người không vui hơn cả là Sơn.

Từ mấy tháng trước, họ đã xép đặt bao nhiêu dư định. Họ sẽ giong cả đàn voi tới chào ông già Cao. Trước hết, trên đường về, họ sẽ ghé thăm bà mẹ và cô gái Lào. Vui biết mấy, buổi gặp gỡ với những người cô ân tình với họ. Họ muốn dành cho những người ấy đủ chuyện bất ngờ. . . Lũ voi rầm rập đi vào làng. "Cái gì thế? Cái gì mà rộn ràng thế?" Bà mẹ và cô gái sẽ hỏi nhau, rồi chạy ra đứng nhìn ở ngoài sàn. . . Quản tượng Sơn hô to. . . Lũ voi nhịp nhàng quỳ xuống, khua khua vòi lên trời rồi lại nhịp nhàng đứng lên chào khách. . . "Phạ ơi! Tưởng người nào, hóa ra là ai Sơn. . ." – Cô gái sẽ kêu lên và chạy xuống sàn đón họ.

Các chiến sĩ sẽ ăn một bữa cơn vui vẻ ở nhà cô gái. Họ sẽ cùng người làng tổ chức một tối "lăm vông". Họ sẽ tặng bà mẹ và cô gái tất cả những món quà mà người làng Vông-xay tặng cho họ. Họ dự định bao nhiên điều tốt đẹp. Nhưng Pha-lăng làm những dự định của họ không thành.

- Chẳng hề gì! – Tiểu đội trưởng Hưng an ủi Sơn. – Thế nào ta cũng đưa được đàn voi đến chào ông già Cao. Còn bao giờ bình yên, ta sẽ đưa đàn voi tới đó.

Phải, bao giờ bình yên. . . Các chiến sĩ sẽ đưa đàn voi tới thăm bà mẹ và cô gái Lào. Họ sẽ thực hiện mọi điều mà họ từng xếp đặt.

Hà Nội tháng 7 năm 1976 



HẾT
------------------------------------

Ghi chú 

(1)Nậm Khoỏng: sông Mêkông. 
(2)Hoa Chămpa: hoa đại 
(3) Cuối thế kỉ 18, đề đốc Lê Trực hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, dấy quân chồng Pháp xâm lược ở vùng Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. 
(4) Một thứ vải đàn ông quấn quanh hông như váy 
(5) Ông chủ tịch 
(6) Không biết múa. Không biết. 
(7) Bộ đội Tình nguyện Việt Nam. 
(8) Quan lớn 
(9) Người Lào ăn Tết vào giữa tháng tư dương lịch 
(10) Lào Việt đoàn kết 

>> Mục lục & giới thiệu