Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

Phia tây Trường Sơn - Vũ Hùng (chương 4)

Ngoài những dịp trò chuyện và các bữa ăn chua, ngoài những giờ học tiếng và chữ vào các buổi tối bên bếp lửa, suốt nửa tháng đầu các chiến sĩ chưa được học gì về nghề quản tượng. Ai cũng sốt ruột. Trong một buổi sinh hoạt – các chiến sĩ vẫn giữ nền nếp sinh hoạt đều đặn – Sơn và Đức đã yêu cầu tiểu đội trưởng Hưng đề nghị bác Bun-mi bắt đầu dạy nghề cho họ để sớm được đưa voi về nước. 

Hưng chưa kịp nóí thì một bữa bác Bun-mi đã bảo:

- Anh em biết qua công việc của người quản tượng rồi.

Trẻ em Lào trong trang phục truyền thống (ảnh minh hoạ)


Bây giờ ta bắt đầu làm quen với lũ voi.

Mới đầu bác dạy họ bài hát dỗ voi. Ai đã là quản tượng, trước hết phải biết bài hát này. Họ thường hát lên cho con voi nghe khi cần an ủi nó sau một công việc vất vả hoặc khi con vật có những dấu hiệu không vâng lời.

Hôm sau, bác Bun-mi trao Sơn và Đức cho hai quản tượng giỏi trong làng, còn bác thì nhận Hưng làm phụ việc thay Khăm-phay, cho Hưng chăm con voi Bạc-heng của bác.

Bạc-heng là một con voi đực đang tuổi làm việc. Nó có một cặp ngà rất đep. Ngà trắng bóng, gốc đầy hai chét tay, mỗi chiếc dài hơn một cánh tay và nặng co lẽ́ đến hai yến. Thật là một con voi trẻ đẹp và khỏe mạnh. Khác hẳn với lũ voi đã đứng tuổi, tai con Bạc-heng còn nguyên vẹn, chưa rách và chưa hề có một vết lang, dấu hiệu của tuổi tác. Hai cái hốc ở trên đôi mắt tinh nhanh của nó vẫn còn đầy, lưỡi và mồm nó lúc nào cũng đỏ hồng. Người nó tràn trề sức sống. Không lúc nào con vật chịu đứng yên: lúc thì lắc lư cái vòi, ve vẩy đuôi và quạt tai; lúc thì đưa đẩy chân hoặc lấy chân nọ cọ vào chân kia; lúc thì ngả đầu và mình sang trái, sang phải.

Bạc-heng về ở với bác Bun-mi đã hơn một chục năm và giúp bác được rất nhiều việc. Công việc chính của nó là cùng các voi trong làng đi chở hàng. Vì có sức khỏe, nó đã đi xa hàng trăm chuyến. Con vật rất thuộc đường, chuyến đi nào cũng được xếp ở hàng đầu và được coi là một trong những con voi đầu đàn của làng Vông-xay.

Vào dịp nghỉ giữa các chuyến đi, Bạc-heng kéo gỗ. Nó kéo rất khỏe. Một ngày nó đi bảy tám chuyến, mỗi lần kéo một cây gỗ nặng hai, ba tấn. Được việc nhất là khi dùng nó phá hoang. Nó lấy chân giẫm nát những cụm cây con và cỏ dại, lấy vòi cuốn và rứt đi từng bụi rậm, đem xếp gọn vào một chỗ. Mỗi ngày nó có thể phá hoang một thửa đất rất rộng. Muốn phá được một thửa đất như thế bằng sức người thì phải mất cả trăm ngày công.

Đã có người hỏi mua con Bạc-heng, đánh giá nó bằng hai chục con trâu. Bác Bun-mi không bán. Nhưng rồi một lần thấy bộ đội Ít-xa-lạ (bộ đội chủ lực của Lào) hành quân, ai cũng mang vác nặng nề, bác bàn với người làng tặng cho anh em mười con voi, trong đó có con Bạc-heng của bác.

Bộ đội Ít-xa-lạ đã lấy bảy con, còn gửi lại dân làng ba con, tặng cho anh em bộ đội tình nguyện Việt Nam và nhờ bác cùng dân làng dạy nghề cho họ.

Bác Bun-mi rất vừa lòng vì chẳng những con voi của bác được nhận mà bác còn có dịp dạy cái nghề bác rất yêu thích cho các chiến sĩ của bộ đội Tình nguyện.

Buổi sớm hôm ấy, hai bố con bác Bun-mi hái một sọt dứa rồi đưa Hưng ra chỗ xích con Bạc-heng. Họ muốn cho con voi quen hơi người quản tượng mới.

Bác Bun-mi trao cho Hưng một quả dứa, bảo anh đem vào cho con vật.

Tuy đã nghe nhiều chuyện về sự khôn ngoan và tính thuần hậu của loài voi, Hưng vẫn không khỏi rụt rè trước cái thân hình to lớn và cặp ngà nhọn hoắt của Bạc-heng.

Bác Bun-mi khuyến khích!

- Vào đi, đừng sợ! Lũ voi không thích người chủ nhút nhát, nhất là bọn voi đực. Càng mạnh bạo càng dễ bắt nó nghe lời.

Hưng bước tới. Mới đầu con voi nhìn Hưng bằng cặp mắt dò hỏi. Nhưng rồi nhìn thấy quả dứa trên tay Hưng, nó biết anh đến cho nó ăn. Anh chưa bước tói nới, con vật đã vươn vòi ra. Nó cuốn ngay quả dứa, khẽ mở đôi môi đỏ hồng hình tam giác, thả vào đó và nhai ngon lành.

Thế là Hưng đã đứng bên cặp ngà của con vật. Ăn xong, nó buông vòi xuống và hít hơi anh rất lâu.

- Đấy, có gì mà sợ! – Chú bé Khăm-phay vừa cười vừa nói. – Anh cho nó một quả dứa nữa rồi gọi tên nó lên, cho nó nghe.

Nghe lời cậu bé, Hưng chạy ra lấy một quả dứa nữa. Vừa cho con vật ăn, anh vừa gọi tên nó. Con voi liền xòe rộng hai tai, lắng nghe.

Cuối cùng bác Bun-mi bảo Hưng tháo xích cho Bạc-heng. Xích tháo xong, con vật liền tự mình lẽo đẽo đi theo anh. Có lúc nó đứng lại, mải tung vòi lên cây bẻ một cành lá non, nhưng khi Hưng gọi tên nó thì con vật lại đủng đỉnh đi tới.

Trong mấy ngày liền, vào các bữa ăn, Hưng mang thức ăn đến cho con vật. Thật là một công việc vất vả vì loài voi ăn rất khỏe. Buổi sớm Hưng phải vác đến cho nó hai bó cỏ mật, một chục thân chuối rừng và một thùng cháo. Buổi trưa anh bê đến cho nó một sọt khoai, một sọt bí đỏ cắt thành từng miếng và một thùng nước pha chút muối.

Chẳng bao lâu Bạc-heng đã quen với Hưng. Mỗi khi anh tới, dù không mang theo thức ăn, con vật cũng hít hơi anh tỏ vẻ vui mừng. Bấy giờ hai bố con bác Bun-mi mới bắt đầu cho anh trèo lên cổ con vật.

Bác Bun-mi hô:

- Tin còn! (Chân trước!)

Con vật co một chân trước lên, khuỳnh khuỳnh như một bậc đá. Hai cha con người quản tượng lần lượt vịn vào vòi con vật, nhảy thoắt lên đứng trên cái bàn chân lù lù rồi trèo tiếp lên đầu nó.

Họ làm mẫu mấy lần cho Hưng xem rồi tụt xuống trông cho Hưng bước lên. Nhưng dù đã quen hơi anh, con voi vẫn không muốn để Hưng trèo lên người nó. Nó không dám đặt chân xuống vì bác Bun-mi chưa cho lệnh nhưng cứ hất hất chân như muốn đá Hưng đi.

Hai bố con bác Bun-mi có thể quát nó đứng yên. Nhưng họ không làm thế. Họ muốn để Hưng biết làm cho con voi tuân phục bằng nhiều cách khác.

- Xa... ạng ơi...! Xa... ạng ơi... ơi!

Phăng đớ xa... ạng ơ... ơi! (Voi ơi!)

Hai bố con bác Bun-mi cất giọng hát bài hát dỗ voi quen thuộc. Khuôn mặt của họ trở nên đăm chiêu, giọng hát trầm trầm kể lể. Con voi liền hếch cặp ngà và xòe ngang cả hai tai để lắng nghe. Càng hát, giọng họ càng như trách móc. Lũ voi vốn phân biệt được giọng nói của quản tượng: giận dữ thì nó lo, buồn rầu thì nó buồn theo, vui vẻ thì nó mừng. Bạc-heng hiểu được ý người, cọ cọ cái vòi xù xì vào vai hai bố con bác Bun-mi và co chân lên cao thêm. Thế là con vật đã bằng lòng. Hai bố con người quản tượng lại vui vẻ. Họ thưởng cho con voi một quả dứa nữa và gọi Hưng lại.

Hưng tới trèo lên chân con vật. Nó co chân rất cao để anh có thể dễ dàng leo lên đầu nó.

Sau vài lần, hai bố con bác Bun-mi tập cho Hưng lên mình voi bằng các cách khác. Khi họ hô "Tin lăng" (Chân sau!), con voi duỗi một chân sau ra cho Hưng trèo lên mông nó. Khi họ hô "Mẹp!" thì con voi liền phủ phục cho Hưng trèo lên từ bên sườn.

Cứ thế, hằng ngày hai bố con bác Bun-mi dạy cho Hưng mọi khẩu lệnh. Dần dần con Bạc-heng quen với tiếng Hưng, anh bảo gì nó cũng làm theo ngay.

Từ đó, Hưng được giúp bác Bun-mi điều khiển con vật trong mọi công việc hằng ngày.

Buổi sớm, anh mang thức ăn đến cho Bạc-heng rồi chuẩn bị cho nó đi làm. Anh lắp hai cái bao bằng sắt giống như bao gươm vào cặp ngà của nó để ngà khỏi bị sây sát khi con vật nâng những cây gỗ lên, xếp thành đống. Rồi anh đưa nó vào rừng và cùng bác Bun-mi đóng xích cho nó kéo gỗ. Buổi trưa, anh đưa nó về, xích dưới bóng râm cho nó nghỉ. Khi con vật đã lại sức, Hưng giong nó đi kéo nốt chuyến gỗ buổi chiều. Trước khi vào rừng, theo lệnh Hưng, Bạc-heng đến dưới giàn gác các ống tre, tung vòi lên, ôm lấy từng cái ống rồi ra sông kín nước về cho bác Bun-mi gái nấu bữa cơm tối. Cũng có lúc Hưng đưa nó đi lấy củi. Con vật nhắm một cành cây vừa tầm, vươn vòi lên, bẻ xuống. Hoặc nó lấy chân cào đất, lấy trán húc vào cây cho cong, sau đó lấy hết sức tì chân lên để đạp đổ.

Con vật không bao giờ vội vàng, cứ đủng đỉnh và im lặng cho tói khi công việc đã làm xong.

Sau phiên việc buổi chiều, Hưng thả cho Bạc-heng theo bầy tự do đi tắm dưới con sông chảy ở ven làng. Nhiều bữa Bạc-heng cùng với bầy voi đặt các trò vui trên bãi cát rộng, chời đùa cho bõ một ngày vất vả. Bạc-heng đi lại, tung vòi cuốn lấy vòi một anh voi đực lực lưỡng, ra sức kéo co. cả bầy liền tản rộng, nhìn cuộc vui bằng những cặp mắt lim dim tinh nghịch.

Bốn cặp chân đồ sộ màu xám của hai đố thủ cùng căng thẳng, các bắp thịt cuộn lên. Hai cái vòi lúc thì giãn dài, lúc thì co ngắn. Bạc-heng lùi được một đoạn, con kia cố kéo lại. Rồi bỗng Bạc-heng thót hẳn bụng, rụt đầu ra phía sau. Nó lấy hết sức kéo đối thủ lết đi hàng chục bước, làm bãi cát lõm xuống những đường sâu hoắm như đường cày. Sau đó Bạc-heng đứng lại, mắt chớp chớp như bảo bạn: "Đừng giận nhé, chẳng có gì quan trọng đâu, chỉ là đùa vui đấy thôi. . ."

Đùa nghịch đã chán, bầy voi lại vai chạm vai cùng lội xuống sông, ngả mình nằm giữa làn nước trong xanh. Bạc-heng nằm lặng im, khoan khoái, tận hưởng cái mát mẻ và yên tĩnh của buổi chiều, cho đến khi trên làng nổi trống gọi thì con vật mới thong thả lên bờ và cùng với bầy, lững thững đi về.

Bữa chiều, Bạc-heng và bầy voi được ăn theo ý thích.

Ở giữa bãi voi làng, các quản tượng đã chất đầy những thân chuối, những bó cỏ mật và những bó lá rừng. Lũ voi đến đấy không tranh giành cãi lộn, chọn những thứ mà chúng ưa nhất, đủng đỉnh đem về nơi chúng ngủ. Bạc-heng cũng đi lại vài ba chuyến, lấy đủ thức ăn để ăn đêm.Rồi nó đứng lắc lư bên cái cột, chùng một chân, vừa ăn vừa lim dim mắt, như có điều gì đang bận suy nghĩ.

Khi Bạc-heng ăn xong, Hưng đến xích chân nó vào cột. Con vật hít hơi anh lần cuối cùng trong ngày. Một lúc sau con voi của Hưng đứng im như đá: nó đã ngủ yên.

Làng Vông-xay gửi Sơn cho bác Thao Phêng. Bác là quản tượng của con voi Sao-nọi. Tiếng Lào, Sao-nọi là "Cô bé con". Đó là một con voi cái đẹp và hiền."Nó hiền như con chó con ấy, ai Sơn à!" bác Thao Phêng bảo khi Sơn đến làm phụ việc cho bác.

Cái thân hình to lớn của Sao-nọi khiến Sơn e ngại. Nhưng thật ra, con vật không khó tính như lũ voi đực. Nó rất dễ gần và thông minh.

Nó là một trong những con voi được lựa chọn ở làng Vông-xay để bí mật chuyên chở vũ khí cho anh em bộ đội Lào qua các vùng địch tạm chiếm. Vũ khí được buộc dưới chặt bụng nó; con vật cùng với bầy đi như một đàn voi hoang. Bác Thao Phêng bước sau chúng như một người đi tìm con trâu bị lạc. Bác điều khiển chúng bằng tiếng chim. Khi qua quãng đường nguy hiểm, bác kêu một hồi như chim hót và thế là bầy voi phá chạy hệt như lũ voi rừng, ào ào qua con đường bị phục kích.

Bác Thao Phêng đưa Sơn đến bên cái vòi của Sao-nọi và gọi:

- Này Sao-nọi! Ai Sơn là quản tượng mới, nhận hơi đi!

Con voi lập tức vươn vòi lên, rà khắp người Sơn để ngửi hơi. Đôi mắt nhỏ của nó chơm chớp liên hồi.
Chỉ vài mươi ngày sau, con vật đã quen với Sơn. Bác Thao Phêng cho Sơn cây đòng nhưng chẳng bao giờ anh phải dùng đến vì Sao-nọi rất vâng lời và sáng dạ. Chỉ cần Sơn nhích hai chân kẹp ở cổ hoặc vỗ vỗ vào đầu nó là nó hiểu ngày ý định của anh: con vật quỳ xuống, đứng lên, đi tới hoặc lùi lại, không để Sơn phải hô một tiếng.

Được trao một con voi ngoan như Sao-nọi, Sơn rất vừa lòng. Anh hết sức chăm lo cho con vật. Vào những buổi trưa nóng bức, Sơn thường thấy Sao-nọi lấy vòi nhặt một cành cây khua trên lưng để đuổi ruồi muỗi. Những bữa không tìm được một cành cây vừa ý, Sao-nọi bứt rứt. Nó bồn chồn đi lại, cong vòi lên lưng mà xì hơi.
Thấy thế, Sơn làm cho Sao-nọi một cái quạt. Anh ghép hai tàu lá gồi, nẹp tre cho cứng rồi đưa cho Sao-nọi. Con voi xua quạt trên lưng và thấy cái quạt đuổi ruồi tốt hơn những cành cây mà nó từng nhặt được, nó lim dim đôi mắt tỏ ý vui thích.

Hết buổi trưa, khi xuống giong Sao-nọi đi làm, Sơn lấy cái quạt ở vòi nó, cắm xuống một khe đất bên cái cột xích voi. Hôm sau Sao-nọi bắt chước Sơn và từ đó thành một thói quen: mỗi khi quạt xong, con vật lại cắm cái quạt vào chỗ cũ.

Một buổi trên đường đi làm về, Sao-nọi đưa Sơn qua một gốc phượng rừng đầy những túm hoa vàng. Con voi ngừng lại, đi quanh rồi rồi vươn lên cao. Nó tìm một chùm hoa đẹp, nhẹ nhàng bẻ lấy rồi đưa lên đầu cho Sơn.

Nó trả ơn người quản tượng đã hết lòng vì nó.

Làng Vông-xay trao cho Đức con voi đực Bạc-mày. Thoạt đầu, cũng như mọi con voi trong làng, Bạc-mày rất dễ bảo. Chỉ sau vài tháng, con vật đã quen với Đức và lưu luyến anh chẳng khác gì nó lưu luyến người quản tượng chính.

Nhưng mấy bữa nay Bạc-mày bỏ ăn. Nó trở nên hiếu động và hung hãn. Con vật giằng xích, bồn chồn đi lại quanh cái cột, hệt như một con gấu. Cái chuông ở cổ nó không ngừng kêu reng reng. Từ khi nó bắt đầu trái tính, Đức đeo cho nó một cái chuông, cũng như người ta treo chiếc mõ ở cổ trâu, phòng khi con vật giật xích chạy trốn thì theo tiếng chuông mà tìm nó về.

Chốc chốc Bạc-mày lại rống lên. Tiếng rống dữ tợn như tiếng một con voi độc giữa rừng hoang, át cả nhịp chuông reo lanh lảnh.

Năm nay Bạc-mày hai mươi tuổi, đó là tuổi thanh xuân của loài voi. Bạc-mày cũng hồn nhiên và tinh nghịch như con người vào tuổi ấy. Nó thường âu yếm hít hơi những ai qua lại, có khi phun một tia nước vào họ rồi nheo nheo cặp mắt ra chừng thích thú.

Bạc-mày không ra đời ở những khu rừng hoang dại cây cao bóng cả, nơi tổ tiên nó đã từng ra đời. trái lại, con vật sinh ra trên một nệm rơm êm ấm ở giữa làng Vông-xay. Mẹ nó khi ấy mới về với loài người nhưng có mang nó từ ngày còn sống trong rừng.

Lớn lên ở dưới làng, Bạc-mày rất thuần tính. Các quản tượng không phải dạy nó điều gì: nó thuộc hết các khẩu lệnh của họ từ thuở mới ra đời. Đến năm mười lăm tuổi, con vật bắt đầu đi làm. Nó được đối xử tốt, được ăn no và làm việc vừa sức. Cuộc sống chẳng có gì khó nhọc: Bạc-mày rất vừa lòng dù dòng máu chảy trong người nó vẫn là dòng máu nóng hổi của loài voi.

Thế nhưng nay con voi Bạc-mày đã hoàn toàn đổi khác. Trước hết nó im lặng. Nó từ chối mọi sự săn sóc của Đức: khi anh vuốt ve nó thì nó đạp đạp chân, tỏ ý bực bội. Rồi con vật trở nên khó tính: hơi trái ý là nó nhìn gườm gườm, cong lưng, đập tai và hươi đôi ngà lên một cách gây gỗ, sẵn sàng nổi giận. Nhiều lúc nó đứng u uất, nhìn đăm đăm về phía chân trời. Mắt nó như đóng đanh vào các rừng cây và những ngọn núi biếc, từ đó bay về mùi thơm của lá cơm xôi và của những ngọn thông già.

Một nỗi khao khát về sự buông thả mà nó chưa bao giờ được hưởng cháy bỏng trong người nó. Nó thèm được đi lại tự do dưới những vòm cây hoang dại, không xiềng xích nặng nề ở dưới chân, bên một con voi bạn cũng không xiềng xích như nó.

Nỗi khao khát kéo dài đến mức con vật thấy ngứa ran trong các thớ thịt. Da nó đau đớn và run lên rùng rùng, như bị chích bởi muôn nghìn ruồi muỗi vô hình. Đến đêm, khi trăng rừng xanh biếc rọi vào mắt nó thì con vật không còn chịu đựng được nữa. Nó đứng dựng dậy, hai chân sau căng thẳng, hai chân trước chới với. Bụng nó như thót lại, bao sức lực được dồn cả lên đôi vai để sẵn sàng chồm ra phía trước. Rồi nó vươn vòi lên cao, thở hổn hển và rống những tiếng rền vang, vừa buồn thảm vừa hung hãn.

Tiếng rống dữ dội làm thức tỉnh cả làng Vông-xay đang ngủ im lìm. Người ta vùng dậy, đốt đuốc, cầm gậy gộc chạy đến. Mặc, con voi không thèm chú ý đến sự náo động diễn ra quanh nó, cứ giận dữ gào lên mãi. Chừng như những bản năng bị vùi lấp từ lâu sống lại trong người nó. Không phải bản năng của chính nó mà của tổ tiên nó gửi lại từ ngàn đời.

Bạc-mày đang qua cơn khủng hoảng mà bất cứ con voi nào ở lứa tuổi hai mươi cũng đều trải qua.

Ngay giữa đêm ấy, người quản tượng của con Bạc-mày và Đức cùng một số quản tượng bạn và bác Bun-mi đến chữa cho nó trở lại thuần tính.

Thấy đông người, Bạc-mày càng muốn đập phá. Nó cứ đứng dựng như một con ngựa bất kham, đôi mắt lúc bình thường hiền dịu, lúc này giận dữ, bắt ánh đuốc, đỏ ngầu. Dây xích dưới chân nó căng bần bật, như sắp đứt tung.

Con Bạc-heng lực lưỡng đem bác Bun-mi và Hưng trên cổ cùng ba bốn voi khác vào sát con Bạc-mày, lấy vòi ấn nó đứng xuống. Bạc-mày chống cự dữ dội.

Một người quản tượng trẻ nóng nảy đòi dùng cây đòng. Anh khua cây đòng sáng ngời của anh trên đầu:

- Từng nay người mà chịu một con voi à?

Bác Bun-mi gạt đi:

- Ấy chớ! Không phải lúc dùng cây đòng. Để nó cho tôi.

Bác Bun-mi không thích trừng phát. Bác cho rằng lũ voi trẻ tuổi, cũng như những con người vào tuổi ấy, cần sự khuyến khích và gương tốt hơn.

Bác quay lại bảo Đức, Hưng, Sơn cùng người quản tượng trẻ vừa nãy đã đòi dùng cây đòng với Bạc-mày:

- Con vật hung dữ thì người quản tượng phải hiền từ. Đừng đánh đập nó, càng đánh đập càng làm nó nổi giận.
Bác Bun-mi điều khiển con voi theo những nguyên tắc của bác. Bác thực lòng tin yêu con vật và không bao giờ bắt nó chịu đựng những điều nó không chịu nổi. Loài voi cũng cảm giác, cũng suy nghĩ, đau khổ hoặc sung sướng, yêu thương hoặc giận dữ, chẳng khác con người. Tốt nhất là hãy công bằng với chúng. Sự công bằng và những săn sóc có tác dụng đối với chúng hơn là cây đòng. Bác Bun-mi thường căn dặn các chiến sĩ: "Điều khiển loài voi khó hơn người ta thường nghĩ. Chúng là những con thú có sức mạnh và có trí khôn. Người quản tượng phải biết coi trọng sức mạnh và trí khôn ấy!".

Bác Bun-mi cho Bạc-heng lấy vòi giữ chặt lấy vòi Bạc-mày. Bác đề nghị:

- Cho nó uống thuốc rồi thả nó về rừng ít ngày.

Các quản tượng gật đầu, tán thành. Đức giật mình, hỏi:

- Người làng Vông-xay định thả con Bạc-mày thật hay sao, bác Bun-mi?

- Phải. Khi một con voi muốn đi, hãy để nó đi, không thể nào khác được. Bao giờ nó muốn thì tự nó sẽ trở về.

- Lỡ nó không về thì sao? Nó đang trong cơn điên. . .

- Nó sẽ trở về, ai Đức ạ! Lòng tốt của ta giữ chân nó. Khi nào tỉnh lại, nó sẽ quay về.

Bác Bun-mi bảo người về lấy một nải chuối. Bác bóc vỏ, nhét vào đó những viên thuốc rồi thong thả cho Bạc-mày ăn từng quả. Khi nó ăn xong, bác ra lệnh cho Đức tháo xích dưới chân con vật. Các voi khác giãn ra, nhường lối cho nó.

- Đi nhé! Đi vài hôm rồi trở về nhé! – Bác Bun-mi vui vẻ chào con Bạc-mày.

Được buông thả bất ngờ, mới đầu con vật đạp đạp cái chân rồi thấy chân đã nhẹ, nó rảo bước đi ngay ra khỏi làng. "Rung reng... rung reng...". Tiếng chuông kêu theo tiếng chân và dần dần xa.

Đêm ấy, Đức và các bạn không sao ngủ được. Họ nằm tiếc con voi, chỉ e nó không trở lại.

Nhưng mấy hôm sau, con vật đã quay về. Mới qua vài đêm, chắc nó chưa kịp lên tới những con đường mà các bầy voi hoang thường đi lại. Cũng có lẽ vì thuốc đã ngấm, cơn khủng hoảng của con vật đã chấm dứt.

Nhưng còn một lý do nữa không kém phần quan trọng. Dù có sức mạnh, con voi cũng như mọi thú vật khác, muốn nhìn thấy hết thảy nhưng lại muốn che giấu mình. Đó là tính rừng. Nhưng cái chuông ở dưới cổ Bạc-mày cứ kêu lanh lảnh. Bạc-mày thấy mình bị nhìn rõ ở khắp nơi. Nó biết bất cứ lúc nào cũng có những cặp mắt từ những bụi cây, những hang hốc rình theo nó từng bước.

Có thể loài voi cũng biết suy nghĩ. Qua cơn khủng hoảng, Bạc-mày tự thấy mình không còn thích hợp với cuộc sống bí mật trong rừng. Nó quay về.

Bây giờ đang là bữa ăn chiều. Lũ voi bạn đón nó bằng những tiếng rống vui vẻ. Con vật lại lững thững đi đến chỗ để thức ăn ở giữa bãi voi làng, chọn những thứ nó thích, mang về bên cái cột của nó.

Nó đứng ăn bình yên như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Nghe tiếng chuông kêu ngoài bãi voi, Đức nhảy choàng từ trên sàn xuống đất.

- Bạc-mày đã về! Bạc-mày đã về!

Vừa kêu, Đức vừa chạy đến, ôm chầm lấy cái vòi của Bạc-mày. Hưng và Sơn cũng vội chạy lại. Họ đem theo một túi quả "óc chó", nhặt từng quả đưa cho con voi. Con vật tinh khôn dùng vòi hít lấy, thả xuống chân, khẽ đạp cho vỡ lớp vỏ cứng rồi đưa cái nhân trắng lên mồm nhai ngon lành.

Bác Bun-mi và các quản tượng khác cũng đã tới. Mọi người hân hoan đứng nhìn Bạc-mày ăn. Đợi cho con vật ăn xong, các quản tượng giúp Đức xích nó vào cột như cũ. . .



*
Hai bố con bác Bun-mi thường đưa các chiến sĩ đi tìm những lá thuốc mà người quản tượng cần biết. Làng Vông-xay cũng có một vườn thuốc, nhưng phải vào tận rừng sâu mới tìm được đủ các loại lá cần dùng.

Con voi về dưới làng đôi lúc cũng ốm đau. Cách chữa bệnh tốt nhất là thả nó vào rừng, nó đi đâu thì người quản tượng đi theo đó. Do bản năng kỳ lạ, con voi tự tìm được những món thuốc thích hợp.

Đưa những con voi ốm vào rừng nhiều lần, quản tượng làng Vông-xay dần dần biết nhiều vị thuốc của loài voi. Con voi kiếm dây sâm leo, lá bách bộ khi bị ho. Nó tìm sâm lá mít, cỏ xước khi bị đau ở các khớp, ăn rau gai khi bị lở trong mồm, rau lu lu, rau chóc khi sốt, kiếm cây thồm lồm khi đau bụng. . . Có loại thuốc là cỏ, lá, có thứ là dây tầm gửi bám trên các thân cây, là rêu mọc ở các bờ suối hoặc trong các hang hốc ẩm ướt, nhưng có loại lại là rễ và củ nằm sâu dưới đất. Muốn lấy được những củ và rễ đó, con voi hít nước phun cho đất mềm ra rồi lấy vòi lắc và nhổ cây lên.

Vào những dịp nghỉ giữa hai đợt kéo gỗ, hai cha con bác Bun-mi đưa các chiến sĩ đi rất xa. họ không mang vũ khí như những người săn bắt mà đi như những nhà nghiên cứu hiền lành và vui vẻ, tới tận những con suối kỳ lạ, nơi voi hoang thường tìm đến nghỉ ngơi và chữa bệnh.

Có những con đường thênh thang dẫn đến các suối ấy. Chúng ở rất sâu trong rừng, luôn luôn ấm áp, bốc khói và tỏa mùi lưu huỳnh. Nước trong vắt, sủi tăm, chảy qua những tảng đá làm thành muôn vàn chiếc bong bóng, long lanh dưới các tia nắng lọt qua vòm cây. Lũ voi hoang để lại ở đây bao vết tích: những vết chân lui tới hằn rõ trên nền đất, có dấu đã rắn đanh, có dấu còn mới, những thân cây bị mài mòn, những tảng đá bị cọ nhẵn, những bến tắm kín đáo dưới những vòm cây cao lớn hoang sơ và nguyên vẹn: lũ voi không bao giờ tìm thức ăn ở bên những bờ suối này, giữ bí mật nơi chúng chữa bệnh trước những cặp mắt tọc mạch của các loài thú rừng.

Ngoài những chuyến đi dăm ba ngày ấy, thỉnh thoảng hai cha con bác Bun-mi còn dẫn các chiến sĩ đi săn, khi bồ thịt khô và vò mỡ trong nhà đã gần cạn. Họ đi kiếm một con nai hoặc một con lợn ở những cánh rừng dưới chân núi gần làng. Nhưng cuộc săn nhỏ như thế thì một vài nhà tổ chức với nhau. Bao giờ tìm được dấu thú lớn thì cả làng giòng voi đi cùng. Đi săn trên lưng voi cũng là những cuộc rèn tập: các chiến sĩ phải luôn luôn ra những mệnh lệnh chính xác cho lũ voi, khỏi để sống con mồi.

Nhiều tháng trôi qua. Các chiến sĩ hoàn toàn quen với đàn voi và có thể thay thế những người quản tượng chính. Mùa khô cũng vừa tới. Sông và suối đã vơi, những cánh đồng trước đây ngập nước, nay đã khô cạn. Những đoạn đường lầy lội, không thể đi lại được trong mùa mưa, vào dịp này cũng se bùn. Mùa lên đường đã tới. Làng Vông-xay tổ chức những chuyến đi xa, sang Thái Lan hoặc lên tới vùng biên giới Lào Bắc, giáp với nước Miến Điện, hoặc xuống miền cực nam Cam-pu-chia.

Cả làng tấp nập chuẩn bị cho những chuyến đi kéo dài hàng tháng. Các bà nội trở sửa soạn thức ăn ăn đường, gạo nếp, thịt khô, mắm cá, nồi niêu, bát đĩa... Các chiến sĩ thì cùng các quản tượng sửa sang lại bành voi, dây chằng, vỗ cho lũ voi ăn béo và chuẩn bị đồ đạc riêng, chăn màn, quần áo. Các quản tượng có loại tiền gì đều mang đi hết. Các chiến sĩ đều được người làng Vông-xay phát một ít đồng "bạt", đồng "ru-pi" và đồng "riên" để có thể mua những vật kỷ niệm nho nhỏ ở dọc đường. Họ còn được học những câu thông thường tiếng Thái, tiếng Miến Điện và tiếng Khơ-me để tiện liên lạc với người địa phương.

Ai cũng vui thích và náo nức chờ đợi từ hàng tuần trước. Càng gần ngày lên đường, các chiến sĩ càng mong mỏi. Đêm đêm, họ trằn trọc, thao thức. Cảnh lạ đường xa mà họ từng nghe các quản tượng dày dạn kinh nghiệm kể lại cứ chập chờn hiện ra trong mơ. . .

*
Bầy đếm được hơn ba chục đầu voi, có tám cặp ngà, do một con voi cái già to lớn dẫn đầu.

Bác Bun-mi và người làng Vông-xay gọi chúng là bầy Đen để phân biệt với bầy Xám, những tốp voi nguồn gốc Miến Điện và Ấn Độ, to lớn, màu lông xám đỏ.

Bầy Đen đang trên đường đi xuống những triền núi phía nam. Chúng đến rừng cọ vào mùa nảy lá, đến rừng chuối khi các cây non bắt đầu lên cao và giờ đây chúng tìm xuống đồng bằng vì một mùa mưa nữa lại sắp bắt đầu. Trong khi đó, những tốp của bầy Xám đi theo con đường ngược lại. Rừng quê hương của bầy Xám cũng đang tươi xanh. Bọn chúng trở về, qua những dãy núi cheo leo của vùng Lào Bắc, tạt sang phía tây, vượt những thác ghềnh của sông Mê-kông, tới những cánh rừng Miến Điện hoang vui, tạm chấm dứt cuộc đi ngàn dặm.

Từ mùa xuân, bầy Đen đã vượt hàng trăm ngọn núi. Trước đây mươi năm, bầy chỉ mới đếm được mươi lăm đầu voi trong đó có dăm voi cái. Cứ ba năm, mỗi con voi cái đẻ một lần và bây giờ thì bầy đã đông đến mức không thể ngừng lại ở đâ lâu hơn ba ngày mà không bị đói. Nhu cầu quá lớn về thức ăn làm chúng phải đi liên miên. Đời chúng là những cuộc đi vô tận, trên những chặng đường gập ghềnh gian khổ.

Trên con đường muôn dặm, bầy Đen chờ đợi nhất mùa mưa. Mùa mưa sẽ chấm dứt – dù chỉ tạm thời – những vất vả vô tận của cuộc sống lang thang, mở đầu một thời kỳ nghỉ ngơi no đủ.

Sang đến giữa tháng tư, nhịp đi bắt đầu gấp gáp. Thỉnh thoảng đã thấy mưa rơi lác đác trên đường. Bầy Đen đi không còn kể ngày đêm và bao giờ chúng cũng xuống đến đồng cỏ đúng vào mùa mưa.

Một chiều, khi đến giờ nghỉ thường lệ, lũ voi của bầy Đen không thấy con đầu đàn ra lệnh ngừng chân. Một vài con rống lên dò hỏi. Đầu đàn không trả lời. Cuộc đi cứ tiếp tục. Rồi trăng lên. Bầy voi vẫn đi dưới trăng. Con đầu đàn thuộc đường biết rằng không bao lâu nữa bầy sẽ xuống đến đồng cỏ.

Khi bầy Đen áo ạt đi trong đêm trên triền núi sau làng và khi con voi già đầu đàn bỗng nhiên rống một hồi dài thăm thẳm thì bác Bun-mi choàng dậy. Đã bao đêm nay, bác chờ đợi một tiếng rống như thế. Bác muốn tổ chức một cuộc săn lớn, trước khi trao những con voi chủ chốt trong làng cho anh em bộ đội tình nguyện Việt Nam.

Nghe tiếng rống vọng xuống làng, mọi nhà đều thức giấc. Lũ voi buộc ở gốc cây thì buồn bực giậm chân và thở phì phì.

Bác Bun-mi chạy ra ngoài sàn. Đêm đã khuya. Mấy đêm trước, mưa rơi lác đác, đến đêm nay thì mây đen bay tới đầy trời. Dãy núi trước nhà như chìm mất trong mây. Chớp lóe xa xa, sấm rền vọng lại.

Mùa mưa đã tới và thế là bầy Đen đã trở về. Một niềm vui mạnh mẽ, niềm vui của những cuộc săn lớn làm một người đứng tuổi như bác Bun-mi cũng thấy náo nức. Tuy bầy đen đi trên núi cao và giờ này chắc chúng đi đã xa nhưng bác Bun-mi vẫn đứng lặng nghe.

Một lúc sau bác mới vào nhà và chất củi nhóm bếp.

Các chiến sĩ cũng đã dậy, đến ngồi cạnh bác.

- tôi nghe như có tiếng voi hoang, bác à! Tiểu đội trưởng Hưng nói.

- Phải, bầy Đen đấy! Bầy Đen đã trở về – bác Bun-mi trang trọng trả lời. – Vài hôm nữa làng ta sẽ tổ chức một cuộc săn lớn.

Ánh lửa lung lay trong lúc ngoài trời mưa bắt đầu rơi. Đàn voi nhà cũng rống theo mưa. Lũ voi vốn là như vậy, chẳng kể voi rừng hay voi nhà, cứ có mưa là chúng trở nên lắm lời.

Những giọt nước nặng nề lác đác đập trên mái nứa. Rồi chẳng bao lâu nước trút ào ào.

Nhiều người đội mưa chạy lên nhà bác Bun-mi, mỗi người che một tàu lá cọ trên đầu. Họ đặt tàu lá ở ngoài cửa rồi giũ nước trên người, vào nhà vừa mừng rỡ nói:

- Bác Bun-mi ơi, bầy Đen về rồi!

- Bầy Đen về rồi! Bun-mi sung sướng nhắc lại.

- Ngày mai ta đi chứ?

- Đi! tôi và vài ba người đi thăm đất. Ở nhà anh em cứ chuẩn bị đồ săn, cho voi ăn no, đợi tôi về.

Sớm hôm sau, bác Bun-mi cùng Hưng và hai người quản tượng nữa lên đường.

Mưa đã ngớt. Trời lại sáng sủa. Trên lưng núi, những dấu chân voi đầy nước mưa, dấu nọ đạp trên dấu kia.
Người theo dấu, từ bác Bun-mi cho đến các quản tượng ai cũng biết nhận dấu và nhận hơi rất giỏi.

Bầy Đen có bao nhiêu đầu voi? Có bao nhiêu voi lớn, bao nhiêu voi con? Chúng đã đi khỏi sớm hay muộn? Nơi nào bầy voi kinh hoàng, nơi nào chúng đã bình tĩnh lại? Nên theo dấu nữa hay thôi, có theo nữa cũng vô ích vì chúng đi đã quá xa. . . Tất cả những điều đó đều đọc được ở dấu chân mà bầy voi để lại trên đường.
Bác Bun-mi đi đầu, khom lưng bước theo dấu. Mỗi con voi có một dấu chân riêng, bác Bun-mi đếm dấu và biết rõ số đầu voi trong bầy Đen. Bác chỉ cho Hưng những dấu lớn giữa các dấu khác. Đó là dấu của con đầu đàn. Những dấu ấy cách nhau từng đoạn dài theo nhịp bước và hằn sâu, chứng tỏ đầu đàn là một con voi lớn nặng nề. Nhưng to lớn đến đâu? Cao bao nhiêu? Nặng bao nhiêu?

Bác Bun-mi lấy một đoạn đây đo vòng quanh dấu chân. Vòng chân dài sáu gang tay. Con đầu đàn cao gần gấp hai lần chiều dài ấy. Vòng bụng của nó gấp hai lần chiều cao. Còn sức nặng của nó thì được bác Bun-mi ước đoán theo bề sâu của dấu hằn trên đất rừng.

Rồi đoàn người bắt gặp từng đàn bướm đậu đầy trên dấu. Bướm bay lên phấp phới khi bác Bun-mi cúi nhìn. Bác nói với các quản tượng:

- Bướm nhiều thế này là dấu còn vương hơi, lũ voi rừng chưa đi xa.

Bác Bun-mi nói không sai. Chừng một giờ sau, đoàn người đã ra tới đồng cỏ và thấy lũ voi đang ăn ở đó.
Họ trèo lên một chòi rình, dựng sẵn đã mấy năm nay trên một lùm cây. Từ trên chòi nhìn thấy cánh đồng bát ngát và một dòng sông uốn khúc. Lau sậy mọc chen chúc, xanh um, và những bụi tre mai uốn cong, rủ các lá rộng trên bờ cát trắng.

Bò rừng và hươu nai tự do kiếm ăn ngoài đồng. Chúng đi lại thong dong. Khi mùa mưa bắt đầu, bầy voi từ trên núi xuống, cuộc sống của đám bò rừng và hươu nai này trở nên an toàn vì lũ thú dữ thường rình đợi chúng đã khiếp sợ bỏ đi. Phía dòng sông, từng đàn chim te te và cò ngà lượn chập chờn trên mặt nước. Thỉnh thoảng một đàn sáo lại bay lên từ một chỗ khuất sau bờ sậy, vỗ lấp loáng những đôi cánh đen đốm trắng. Nơi đó chắc có những bầy trâu rừng đang đằm bùn.

Ở đồng cỏ không phải chỉ có bầy Đen. Còn vài ba bầy voi khác. Từ trong rừng lau rậm rạp, những cái vòi ngóc lên như những con trăn lớn, vung vẩy bốn phía tìm hơi lạ. Hầu như mọi bầy voi ở những triền núi chung quanh đều trở về đây. Từ tháng năm, đồng cỏ bốc lên vùn vụt, thức ăn của chúng bao giờ cũng thừa thãi. Chúng sẽ ở lại đây cho đến tháng mười, khi cỏ tranh, lau sậy và các loại dây leo đã héo vàng, lúc đó chúng mới bỏ lên núi để tiếp tục cuộc đi.

Một bầy voi bỗng rẽ lau đi tới. Những cái lưng đã được mưa rửa sạch, bóng loáng dưới nắng, hiện ra ngổn ngang. Đông lắm. Bây Đen đấy. Bác Bun-mi đếm những con voi có thể săn được. Khoảng chừng vài chục con. Bác nhắm sẵn dăm con, chỉ cho các quản tượng biết. Làng Vông-xay chỉ đủ sức săn bắt từng ấy.

Những con voi của bầy Đen bị cái nắng chói chang sau cơn mưa thiêu đốt. Chúng đi tới bến tắm, nơi có mấy cây chò cổ thụ tỏa bóng.

Nhưng có một bầy voi đã ở dưới bến từ trước. Loài voi vốn sống có trật tự: con đầu đàn bầy Đen liền rống một hồi vang vọng để báo hiệu. Con voi già của bầy đang tắm thong thả nhỏm dậy, đi lên bờ. Nó lắc lư cái vòi như người ta khua cây roi rồi vươn về phía bầy Đen, rống trả lời.

Bầy Đen liền ngừng lại.

Lũ voi đang tắm lục đục đi lên. Voi mẹ giục giã đàn con đang mải nghịch lên cho mau. Rồi bầy đã được tắm mát lững thững bỏ đi về phía chân núi.

Khi chúng đi khỏi, đầu đàn của bầy Đen đưa bầy xuống bến. Lũ voi chờ đợi đã sốt ruột, thấy nước liền xô đẩy nhau bước xuống. Một vài con đứng lại khi nước mới ngập đến khoeo chân, khoan khoái hít nước tia lên lưng. Lũ voi mẹ đẩy các con ra ngoài bắt chúng tập bơi, làm chúng sợ hãi rống ồ ồ và đạp nước tung tóe. Nhiều con hụp hẳn xuống đáy sông, chỉ đề hở cái mỏm sọ và cái đầu vòi để thở. Có con voi đực nằm nghiêng hẳn sang một bên sườn, thoải mái, bình yên. Đôi ngà của nó nằm dưới đáy nước trong veo, trông trắng lóa và to hẳn lên.

Tắm xong, bầy voi lũ lượt lên bờ, bắt đầu nô đùa. Lũ voi non kính trọng và lảng tránh các voi già nhưng đùa nghịch với nhau một cách thỏa thích. Chúng nghiêng ngó, đưa mắt tìm kiếm, kêu những tiếng the thé, đĩnh đạc đến gần nhau. Lũ voi già không lấy thế làm khó chịu, đứng nhìn với đôi mắt vui vẻ, vẫy tai và khe khẽ giậm chân như để khuyến khích chúng đừng sợ và hãy thả sức vui đùa.

Những người quản tượng quan sát bầy voi không chán mắt. Nhưng họ quan sát không phải cho vui mà để đặt kế hoạch của cuộc săn.

Họ ở trên chòi rình ba ngày đêm ròng rã. Mọi việc diễn ra đều đặn như ngày đầu: bầy Đen đi ăn và đúng giờ đã định, xuống bến tắm mát.

Không thể giong voi nhà xông vào một bầy đông như bầy Đen. Tám cặp ngà trong bầy là một sức mạnh đáng sợ. Phải chọn lúc.

Khi xuống bến tránh cái nóng thiêu đốt của nắng hè, bầy Đen đã mệt mỏi. Các quản tượng định mở đầu cuộc săn vào lúc ấy. Họ sẽ đưa voi nhà đến phục trước ở bến tắm, giả làm bầy voi rừng. Chúng sẽ được tắm mát thỏa thích và lấy lại sức trong khi chờ đợi.

Lúc bầy Đen đi tới, nghe tiếng con đầu đàn của chúng rống báo hiệu đòi bến tắm, đàn voi nhà sẽ dũng mãnh xông lên.

-------------------------

>> Đọc tiếp chương 5 (chương cuối)
>> Mục lục & giới thiệu