Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

Phía tây Trường Sơn - Vũ Hùng (chương 3)

Người đưa đường bỗng đi chậm lại. Bác hít hơi: có một mùi gì lạ ở đâu đây. Các chiến sĩ chưa kịp biết nhưng bác thì nhận thấy ngay vì bác vốn có những giác quan nhạy bén của một người sinh ra trong rừng. Mùi thuốc lá. Nhưng không phải thứ thuốc mà người Lào thường hút. 

Có người lạ đang rình.

Bác chỉ vừa kịp báo cho các chiến sĩ biết để đề phòng thì đã nghe tiếng quát ở một bụi cây trước mặt.

Đoàn người rơi vào một ổ phục kích. Như một con tắc kè, người đưa đường lẩn ngay sau một thân cây rồi trườn vào bụi rậm. Các chiến sĩ liền bám theo bác.

Địch xô đến. Lố nhố những lính da trắng và da đen. Đội viên Sơn đi sau cùng, đứng lại tung vào giữa đội hình của chúng một quả lựu đạn, giữ cho đồng đội rút. Lựu đạn nổ rầm, mảnh quất ràn rạt vào các đám lá.

Anh em đã biến hết trong những lùm cây rậm. Lúc này Sơn mới chạy.

Địch đang nằm rạp, chờ một quả lựu đạn nữa nổ nhưng không thấy. Chúng liền nhỏm dậy và thấy Sơn đang chạy ở xa.

Thế là tất cả hò nhau đuổi theo. Có lẽ đến một tiểu đội địch. Chúng vừa đuổi vừa bắn. Đạn réo bên tai Sơn. 
Anh vừa chạy vừa lẩn vòng vèo sau những thân cây để tránh đạn nên khoảng cách giữa anh và lũ giặc cứ ngắn dần.

Đã ra đến cửa rừng. Trước mặt Sơn là một dải ruộng. Bên kia ruộng là làng và còn xa mới tới cánh rừng khác.
Sơn chạy vụt qua dải ruộng. Những khẩu súng sau lưng vẫn nhả đạn theo anh. Anh chạy được vào làng, mất hút sau những gốc muỗm cổ thụ. Anh nhảy vội lên một ngôi nhà, không còn đủ sức và thời giờ để chạy tiếp.
Một bà mẹ và cô con gái đang ở trong nhà. Nghe súng nỗ, đàn ông đã bỏ cả vào rừng. Hai mẹ con hạ hết cửa, ngồi kéo sợi. Tiếng xa quay đều đều làm không khí trong nhà rất bình yên, cách biệt hẳn với không khí hốt hoảng bên ngoài.

Nghe tiếng chân nhảy lên thang, cô gái ngừng kéo sợi, đội mắt lo âu nhìn đăm đăm ra cửa.

Sơn lách vào.

- Phạ ơi! – Cô gái kêu lên.

Bà mẹ nén sợ, hỏi:

- Người là ai?

Sơn đứng trước mặt họ, hơi thở còn dồn dập vì chặng đường vừa vượt qua. Quần áo anh bị gai xé rách tơi tả và quả lựu đạn đeo bên sườn rung rung theo nhịp thở.

Sơn nói đứt quãng, câu được câu chăng:

- Con là bộ đội tình nguyện Việt Nam... Pha-lăng đuổi... cho con trốn.

Bà mẹ và cô gái cùng lắp bắp:

- Thạ hán a xạ a mắc Việt Nam(7) . . .

Họ ngó nhanh một lượt khắp gian nhà. Họ thuộc căn nhà của họ đến mức có nhắm mắt cũng biết được từng góc sàn, từng kẽ vách.

Bà mẹ tuyệt vọng, khe khẽ lắc đầu.

Sơn nhìn hai mẹ con cô gái, chờ đợi. Họ đang sống bình yên lại chưa biết anh là ai, liệu họ có muốn cứu giúp anh không?

Thấy cả hai mẹ con cùng lặng im, Sơn quay ra. Anh không muốn làm khó cho họ. Anh sẽ chạy khỏi làng và khi cần sẽ dùng đến quả lựu đạn cuối cùng.

Bà mẹ đừng dậy:

- Sao lại bỏ đi? Không kịp đâu!

Bà trông lên gác bếp. Đó là chỗ kín đáo nhất của căn nhà. Trên ấy bà cất những giỏ mây, ống dang, những bẹ ngô giống và những xâu thịt khô. Nhưng cái gác bếp không đủ kín để giấu cả một con người.

Bà mẹ nghĩ tới căn buồng nhỏ của cô gái. Bà muốn nói với con, tạm giấu anh bộ đội Tình nguyện vào buồng. Việc có quan hệ tới cuộc đời của cô. Theo phong tục Lào, buồng cô gái là nơi thiêng liêng, không một người lạ nào được bước vào. Người ta tin rằng các cô gái không giữ được như vậy sẽ không được Trời Phật ban phúc và sẽ bị mọi người khinh rẻ.

Nhưng chỉ thoáng nghĩ như vậy, bà mẹ đã thôi ngay. Bà biết lũ giặc sẽ khám buồng, chúng chẳng bao giờ bận tâm đến những phong tục mà làng bản của bà coi trọng.

Bà lại trông lên gác bếp.

- Mẹ giấu con lên đó, trong nhà chẳng còn chỗ nào kín hơn. Cầu trời phật cứu giúp cho con qua nạn.

Sơn nhìn chỗ trốn. Anh không thể giấu mình trong đám đồ đạc ít oi đó được. Nhưng bây giờ bỏ đi thì đã muộn.
Bà mẹ vừa định ôm những đồ đạc trên gác bếp xuống cô gái chợt kêu lên:

- Mẹ ơi! Không được! Cái gác bếp sụt mất! Nếu không sụt thì cũng thò chân ra ngoài.

Cô quay lại, chỉ vào bồ bông sau lưng:

- Vào đây hơn.

Bà mẹ gật đầu. Rất nhanh cô gái dốc vội bồ bông ra sàn. Cái bồ nhỏ, chỉ chứa được vài ôm bông, nhưng càng nhỏ nó càng ít bị chú ý.

Sơn vào ngồi trong bồ, cố thu mình cho bé lại. Anh tháo lựu đạn ra cầm tay, co gối lên ngực, ép mình như một con cá người ta kẹp chặt để nướng. Cô gái ấn bông mãi, đến mức anh tức thở mới hết. Xong, cô tựa lưng vào bồ bông và bắt đầu kéo xa. Cô lấy hơi cho bình tĩnh. Ngồi cách lưng cô gái một lớp nan bồ, Sơn cảm thấy như trống ngực cô đập rất mạnh.

Bọn lính chạy rầm rập lên thang. Hai tên da đen cầm súng có gắn lưỡi lê, co chân đạp cửa, bước vào. Một tên quan Pháp và hai tên lính nữa vào theo.

Tên sĩ quan cúi chào như một người Lào trong lúc bốn tên lính chĩa họng súng đen ngòm vào bà mẹ và cô gái.

- Xin chào! Xin chúc phúc!

- Xin chào a-nha(8)! Bà mẹ và cô gái lạnh lùng nói.

Tên sĩ quan nhìn một lượt khắp gian nhà rồi dằn giọng:

- Trả người cho chúng tôi!

- Ai? - Bà mẹ hỏi.

- Người Việt! Vừa có người Việt chạy lên đây. Trả ngay nó cho tôi.

- Không có ai lên đây. Nếu có người lên, chúng tôi đã kêu dân bản bắt nộp cho a-nha, lấy thưởng. Từ lâu, chúng tôi đói muối. Xin a-nha đi tìm nơi khác!

Tên sĩ quan cau mặt:

- Người Việt lên đây, tôi biết. Chẳng những nó làm hại người Pháp mà làm hại cả người Lào. Trả nó cho tôi.
- Không có ai ở đây! - Bà mẹ nhắc lại, giọng nói vẫn đều đều bình thản.

Tên sĩ quan nheo mắt, nhún vai rồi vỗ vào bao súng:

- Đừng nói dối! Ta sẽ bắt các người nói thật.

Tên sĩ quan lại nhìn khắp nơi. Thấy không chỗ nào có thể giấu nổi một người, nó nhìn mãi vào căn buồng khép kín và ra lệnh khám nhà.

Bốn tên lính xô đến bốn góc sàn. Gian nhà nhỏ, chẳng chỗ nào đáng lục soát nhưng lũ lính vẫn sục vào khắp nơi. Chúng lấy lưỡi lê chọc vào những chỗ chúng nghi ngờ, xiên lên gác bếp, mở hòm và giũ tung quần áo ra sàn.

Việc đó diễn ra ngay cạnh bồ bông. Tiếng lục soát đập phá vọng vào trong bồ. Những xơ bông theo hơi thở lùa vào mũi Sơn trong lúc những đôi giày đinh cứ xiết mãi trên sàn nứa.

"Nếu chúng tìm thấy?" Sơn tự hỏi. Anh sẽ điềm nhiên bước ra, vứt quả lựu đạn qua cửa và bảo chúng:

- Bắt tôi đi và đừng trả thù những người trong nhà.

Sơn biết lũ giặc sẽ không bao giờ hành động như vậy. Chúng sẽ trả thù. Biết vậy mà Sơn vẫn không thể làm khác vì trong nhà còn có bà mẹ và cô gái.

Nhưng bọn lính đã khám xong. Chúng vừa báo cáo vừa đập gót giày ầm ầm trên sàn. Tên sĩ quan hất hàm, chỉ vào căn buồng. Từ lúc lên, nó chỉ chú ý đến đó.

Một tên lính theo lệnh, đi ngay đến cửa buồng. Nhanh hơn, cô gái vùng dậy, chạy lại dang tay chắn đường.
- Các a-nha, xin đừng vào – cô gái van lơn – tôi thề không có ai trong ấy.

- Tránh ra! – Tên lính quát to.

- Đừng làm như vậy trước mặt mẹ tôi! – Cô gái lại van lơn. Nước mắt tràn trên mí cô:

- Tôi xin! Đừng làm như vậy trước mặt mẹ tôi. Trong ấy không có ai đâu.

Bà mẹ đứng dậy. Bà nghiêm trang đến trước tên sĩ quan:

- A-nha có con gái không? Nếu có thì đừng cho lính của a-nha làm như thế.

Trong lúc đó cô gái xô vào tên lính khi ấy đã đến trước cửa buồng. Mắt cô trở nên ráo hoảnh và giận dữ. Một phát súng bỗng nổ tung. Tên sĩ quan bắn chỉ thiên lên mái nhà rồi nhắm mũi súng bốc khói vào ngực cô.

Một toán lính nữa chạy rầm rạp lên sàn. Hàng chục họng súng và mũi lê chĩa tua tủa vào người cô gái. Bà mẹ gạt những mũi lê, chạy lại che cho con.

- Thôi, đừng bắn! – Bà khẩn khoản. – Các ông vào đi!

Bà kéo cô gái ra ngoài:

- Mặc cho họ vào. Trời Phật sẽ trừng phạt họ. Ngày mai mẹ sẽ cúng giải tội cho con.

Tên sĩ quan hằm hằm tức giận. Nó khẽ rít một câu gì đó trong kẽ răng. Nó tin chắc mẹ con cô gái đã giấu người bộ đội Tình nguyện trong buồng và họ giả làm như vậy để lừa nó. Nó gườm gườm nhìn họ rồi từng bước, từng bước đi tới cửa buồng. Đến nơi, tên sĩ quan đạp tung cửa bước vào.

Cô gái òa khóc.

Rồi lũ lính đi ra. Vẫn hung hãn như khi lên, chúng rầm rập xuống thang. Mẹ con cô gái vẫn bàng hoàng, đứng sững ở chỗ cũ. Lúc tiếng giày đã tắt, họ mới bừng tỉnh.

Cô gái quay lại nhìn bồ bông. Biết chắc người ngồi trong bồ không trông thấy, cô ôm choàng lấy mẹ:

- Mẹ ơi! Mẹ ơi! Con sợ quá.

Cô đặt tay mẹ lên ngực mình:

- Mẹ xem, trống ngực con đập mạnh thế này!

Người mẹ nhẹ nhàng dìu cô gái ngồi xuống cạnh bếp:

- Thôi, ngày mai mẹ cúng cho con. Lạy Trời lạy Phật. Xin người tha thứ và ban phúc cho con gái tôi.

Họ ngồi im cho đến khi nghe tiếng lục đục trong bồ: Sơn cựa quậy, anh bị sặc bông.

Cô gái chạy lại, bốc bớt bông ra sàn.

- Bộ đội ơi! Nhờ Trời Phật thế là thoát rồi. Bộ đội ngồi yên, chờ cho Pha-lăng đi xa hãy ra.

Sơn bật ho. Xơ bông cứ lùa vào mũi làm anh không sao chịu nổi. Cô gái bối rối, gạt bớt bông cho Sơn thò được đầu ra ngoài rồi đi lại bên bếp:

- Mẹ ơi! Đừng giận con – Cô ngập ngừng nói.

- Tại Pha-lăng, con có lỗi gì đâu!

- Không, chuyện ấy qua rồi. Bây giờ con muốn xin mẹ…

Cô gái lại ngập ngừng. Bà mẹ ngước cặp mắt hiền hậu nhìn cô.

- Bộ đội ngồi trong bồ ngạt thở quá. Mà ngày mai đằng nào mẹ cũng phải cúng cho con...

Cô gái không nói hết. Nhưnng người mẹ đã hiểu, bà khe khẽ̀ gật đầu.

Giờ thì Sơn đã ở yên trong buồng riêng của cô gái tuy Sơn hết sức từ chối vì sau nhiều ngày đi trên đất Lào, anh đã hiểu chút ít phong tục của họ.

Sơn đứng bỡ ngỡ trong căn buồng nhỏ. Căn buồng tràn ngập ánh sáng và không khí, mọi vật ở đó đều thơm tho trong trắng. Ở một góc buồng, lưng chừng vách, có treo một tấm gương lồng trong chiếc khung tre. Dưới gương là chiếc bàn nhỏ, có một giỏ mây đựng trâm lược. Lược không bằng sừng như những chiếc lược vẫn bán ở chợ mà gọt bằng gỗ, rất khéo. Cạnh giỏ mây có một bó hoa rừng mới hái, cắm trong một ống tre cưa ngắn và chạm những đường chỉ. Cao trên vách còn thấy treo một chiếc dù chỉ xòe một nửa, giấu bớt những cánh hoa in trên lụa nhưng cũng đủ làm tăng vẻ trẻ trung của gian buồng.

Sơn nhìn đám chăn đệm. Đệm phủ một tấm phá Lào màu trắng, viền những đường kẻ xanh lam. Sơn rụt rè ngồi xuống.

Trời dần về chiều. Địch rút hết về đồn, tiếng súng nghe đã xa xa. Cô gái đã nấu xong bữa ăn tối và đốt cây nến trám buộc lên cột sàn.

Sơn bỗng thấy có tiếng chân bước lên thang. Một giọng nói quen quen chào bà chủ nhà. Sơn ngó qua kẽ phên, thấy người đưa đường đang bước qua ngưỡng cửa. Sơn vội đẩy cửa buồng chạy vụt ra.

Người đưa đường đứng sững lại, kêu lên:

- Phạ ơi, ai (anh) Sơn! Ai Sơn có làm sao không?

- Không sao.

- Pha-lăng bắn theo ai Sơn nhiều quá. Ai Sơn có bị thương ở đâu không?

- Không! Thế anh Hưng và Đức đâu? Có người nào việc gì không hở bác? – Sơn vội vàng hỏi lại.

- Bình yên cả. Mọi người đang đợi ai Sơn trong rừng. Ai Hưng bảo tôi vào tìm trong bản, người ta chỉ tôi lên đây.

Bấy giờ bà mẹ mới mỉm cười, thong thả nói:

- Đấy, người của bác đấy, tôi trả bác. Nhưng lần sau đừng để mất người như thế nữa nhé.

Người đưa đường vui vẻ cười hì hì:

- tôi thấy mùi thuốc lá của Pha-lăng liền báo ngay cho anh em mà không kịp. Lần sau tôi sẽ đi trước thật xa. . .

Sơn kể lại những phút gian nguy của mình và sáng kiến của cô gái trong lúc cô vừa dỡ xôi gói vào những chiếc lá dong vừa nhìn Sơn đăm đăm.

- Thôi, bây giờ thì con đi được rồi. – Người mẹ thì thầm, khi cô gái đã gói hết xôi trong chõ. – Mẹ gửi cho anh em trong rừng mấy gói xôi. Các con đi đâu, mẹ chẳng biết, nhưng bao giờ có dịp thì ghé qua đây cho vui.

Sơn thấy lòng bồi hồi. Ở đây cũng như ở Việt Nam, có biết bao người sẵn sàng che chở, cứu giúp anh. Sơn hỏi tên bà mẹ và tên cô gái, ghi cẩn thận vào sổ tay.

- Nếu mẹ con ở dưới Việt Nam biết tin, chắc mẹ con cũng muốn sang đây thăm và cảm ơn mẹ – Sơn nói. – Nhưng mẹ con chẳng bao giờ đi được nữa vì đường xa quá mà mẹ con thì đã già rồi.

Sơn lấy một chiếc gương nhỏ và dăm túm chỉ màu tặng cô gái:

- Noọng sao (Em gái)! Cám ơn em! Cám ơn em lắm!

- Có gì đâu! – Cô gái khe khẽ nói.

Người đưa đường cầm những gói xôi, giục Sơn đứng dậy. Cô gái bùi ngùi hỏi:

- Có bao giờ trở lại thăm mẹ, thăm em nữa không?

- Có! Nhưng lâu lắm. Một vài năm nữa, khi tôi trở về.

- Đừng quên đấy! Bao giờ về qua, nhớ ghé lại đây.

Cô gái đốt một cây nến trám, đưa Sơn và người dẫn đường ra cửa, soi cho họ xuống thang.

Đi đã xa, Sơn quay lại vẫn thấy ánh nến sáng trên khung cửa.

*
Mùa mưa sắp sang.

Chỉ còn một ngày nữa là đến Tết (9). Một năm mới lại sắp bắt đầu. Cả làng Vông-xay đã nghỉ việc từ mấy hôm trước.

Bác Bun-mi đang ngồi bên bếp. Từ chiếc tẩu bên môi bác, một dòng khói lam mảnh dẻ bay lên. Bác mãi nhìn các con, quên cả rít thuốc. Lũ trẻ đang chuẩn bị đón ngày Tết, vừa làm vừa sung sướng hát khe khẽ. Tiếng hát của chúng làm lòng bác Bun-mi náo nức, như đưa bác trở về sống lại cái thời trẻ trung, lúc nào cũng chờ đợi hội hè.

Mong có dịp để vui chơi sum họp, đó là thói quen của mọi người ở làng Vông-xay. Mỗi khi có hội, làng bản đang im lìm như vụt tỉnh dậy. Vì thế, ai nấy đều tìm hết cách để mở những cuộc vui. Có người muốn dựng một căn nhà mới? Việc bình thường như thế cũng đủ làm làng bản tưng bừng. Ở các làng Lào không có tục thuê mướn người làm vì không ai có tiền để trả công. Mọi việc đều nhờ bà con làm giúp. Người chủ thu thập gỗ tre rồi gọi người làng đến dựng. Tối hôm trước, họ cùng vợ con mặc quần áo mới, đi tới từng nhà. Hôm sau, cả làng vui vẻ kéo đến làm việc dưới quyền một bác phó cả. Vợ con người chủ cùng các bà các cô trong làng nấu một bữa cơm ngon mời khách.

Buổi tối, khi công việc đã xong, mọi người ăn uống no say rồi mở một đêm hội nhỏ mừng nhà mới. Đuốc đốt sáng trưng. Các cô gái ngồi khép nép trên những chiếc chiếu, miệng nhai trầu. Dàn nhạc nỗi lên, trai làng thổi những cây khèn dìu dặt. Một ông già hát theo nhạc một bài "lăm", kể lại một câu chuyện gì đó từ ngàn xưa. . .
Sống trong khung cảnh này, lũ trẻ cũng như người lớn, khao khát hội hè. Cả năm, chúng tính từng ngày, từng ngày, chờ Tết.

Chăm-pa, con gái bác Bun-mi, bận rộn suốt ngày với những chậu nước thơm. Từ mấy hôm trước, cô đã cùng bè bạn đi hái hoa: hoa hồng, hoa nhài và các loại hoa rừng. Cô đem hoa về, cẩn thận lau sạch từng cánh rồi ngâm vào một chiếc bình lớn. Vài ngày sau, nước ngả dần sang màu hồng của những cách hoa và thoảng mùi thơm. Chăm-pa đánh bóng những chậu thau bạc đầy những hình chạm, xinh xinh như những chiếc đĩa, cẩn thận rót nước từ trong bình vào đó. Sau đấy, cùng với bác Bun-mi gái, cô quét dọn nhà cửa, xếp ra sàn những chiếc mâm mây mới và những tâm đệm sặc sỡ, làm chỗ tiếp khách.

Còn Khăm-phay, con trai bác Bun-mi, thì bận rộn cho chim và cá ăn. Năm hôm trước, bác Bun-mi gái đã đổi một mựn (10 kí) gạo lấy một đôi cá chép và một đôi cu rừng xanh biếc, cổ đốm trắng trông như những hạt cườm. Đôi cá lưng óng ánh vảy bạc, bơi lượn trong một vại nước đầy, còn đôi chim cu thì đứng trong lồng có hai máng tre đựng thóc.

Cho chim và cá ăn xong, Khăm-phay xuống chuẩn bị cho lũ voi. Cậu bé rửa cái bồn ở chỗ cột xích voi, xuống con sông chảy dưới chân làng lấy nước sạch đổ đầy bồn. Sau đó, cùng với các quản tượng, cậu đưa voi đi tắm. Ngày mai là ngày hội lớn, ai cũng muốn cho lũ voi của mình sạch sẽ, bảnh bao.

Đến chiều thì mọi việc trong nhà đã thu xếp xong. Bác Bun-mi sửa soạn bữa ăn tối – một năm, có lẽ bác chỉ nấu ăn thay cho bác gái vào bữa này, để vợ và hai con mang chim, cá ra bãi sông.

Khi họ tới nơi thì bãi sông đã đông người. Ai cũng mang theo một lồng chim hoặc một chậu cá. Rất nhiều thứ cá và đủ loại chim: vẹt, chim gáy, họa mi, khướu, bách thanh. Có người còn mang cả rùa và ba ba đến nữa. Hằng năm vào dịp này, họ đem thả chúng đi để cầu phúc, chuộc lại những lỗi lầm mà họ đã mắc phải trong năm cũ.

Các lồng chim đặt thành một hàng dài trên bờ cát trắng. Lũ chim, thấy đông người, nhảy loạn trên những cắng tre trong lồng. Một ông già cao tuổi trong làng đi đến chiếc lồng đầu tiên. Lồng nhốt một đôi khướu bạc má. Ông mở cửa và đứng tránh sang một bên. Đôi chim ló đầu ra khỏi cái cửa lồng chật hẹp, đứng bỡ ngỡ một lúc rồi bay lên cao. Mọi người nheo nheo mắt nhìn chúng bay đi. Ông già nói theo:

- Bay về rừng mà sống nhé! Lúc nào đi kiếm ăn qua làng thì đỗ xuống hót cho chúng ta nghe.

Khi ông bước về chỗ cũ thì người nhà nào đến trước lồng chim của nhà ấy. Bác Bun-mi gái thành kính mở cửa lồng. Đôi chim gáy theo nhau bay ra. Chúng liệng trên cao rồi cùng với đàn chim được thả, xao xác bay về rừng. Khi lũ chim đã bay hết, mọi người thả cá. Bọn chúng ngúc ngắc cái đuôi, từ từ bơi ra khỏi bờ và lẩn vào những tảng đá xanh sẫm nằm giữa lòng sông.

Hôm sau, cả nhà bác Bun-mi cùng dậy sớm. Họ mặc quần áo đẹp rồi dắt nhau ra chùa.

Ở ngoài chùa, các tượng phật được bày trên một bục lớn. Gia đình bác Bun-mi cùng dân làng nghe các sư thuyết pháp và dự lễ tắm cho phật. Nước tắm ngâm hoa thơm được giữ lại và ông sư cả nhúng một nhành lá vào đó, rảy cho mọi người.

Về đến nhà, vợ chồng con cái bán Bun-mi chúc phúc cho nhau và xin lỗi nhau về những lầm lỡ trong năm qua.

- Chẳng ai giữ gìn được suốt năm, thể nào cũng có lúc bực mình nổi nóng – bác Bun-mi nói – Nếu tôi có điều gì không phải thì mẹ nó và các con cũng đừng giận.

Bác gái gạt đi:

- Năm qua bố nó chẳng có lỗi gì. Chỉ có tôi vì bận việc nên thỉnh thoảng còn gắt gỏng làm cửa nhà mất vui. Bố nó và các con bỏ qua cho tôi nhé!

Bác Bun-mi gái nói thế nhưng thật ra bác chẳng gắt gỏng bao giờ. Cũng như những người đàn bà Lào khác, bác làm việc chăm chỉ, thầm lặng, dịu ngọt, nhờ thế mà không khí gia đình lúc nào cũng êm ấm. Bác nói xong, Chăm-pa và Khăm-phay cùng nói:

- Chúng con mới nhiều lỗi, còn tranh giành và nhiều lúc mãi chơi quên cả việc nhà. Sang năm chúng con không thế nữa, bố mẹ tha thứ cho chúng con.

Cả nhà bác Bun-mi hẹn nhau sống một năm mới hòa thuận hơn, êm ấm hơn. Sau đó họ đi thăm các nhà, rảy nước chúc phúc cho bà con làng bản.

Tết Lào mở đầu cho mùa mưa, mùa mưa thì mở đầu cho mùa cày cấy. Trong mấy ngày Tết, người ta té nước đón mùa cày, tin rằng càng té nước trời càng mưa to, mùa màng càng tươi tốt và ai được té ướt nhiều trong năm sẽ được hưởng nhiều phúc lộc. Gặp ai, hai bác Bun-mi cũng nhúng tay vào thau, búng nước thơm lên người họ, vừa búng vừa chúc họ một năm hạnh phúc. Những người được rảy nước đều nhẹ nhàng rảy nước lại cho hai vợ chồng bác và các con, chúc lại những điều may mắn.

Trai gái và lũ trẻ thì nghịch hơn, họ hắt từng thau nước vào nhau. Hết nước thơm, họ hắt nước sông. Ai nấy ướt lướt thướt, phải thay quần áo hết bộ này đến bộ khác. Các quản tượng phun người đi đường bằng những ống thụt, còn bầy voi thì hít nước ở bồn và tia vào họ những tia nước lóng lánh, hệt như những cơn mưa.

Giữa lúc cuộc vui đầu năm đang ồ ạt thì các chiến sĩ bộ đội Tình nguyện Việt Nam vào làng. Nhìn thấy họ từ trên nương xa đi xuống, cả làng đã chuẩn bị đón khách. Trai gái bưng sẵn những thau nước thơm ra đợi ở cửa. Các quản tượng đổ thêm nước vào bồn.

Các chiến sĩ cũng đã chuẩn bị. Được người đưa đường báo trước, họ gói cẩn thận quần áo trong tấm vải mưa và lấy ống nứa đậy vào đầu nòng súng.

Khi họ đi qua các nhà, người ta tới tấp hắt nước xuống và vui vẻ hò reo:

- Chúc phúc cho anh em bộ đội tình nguyện!

- Chúc anh em khỏe và chiến thắng! Lào Việt xa-mắc-khi!(10)

Các chiến sĩ vừa vuốt mặt vừa hò theo:

- Lào Việt xa-mắc-khi!

- Chúc hạnh phúc cho các bạn!

Khi đến được nhà bác Bun-mi thì ai nấy đều ướt sũng. Thế mà hai vợ chồng bác vẫn lấy nước thơm rảy tiếp lên người họ. Cô bé Chăm-pa và cậu bé Khăm-phay bừng tới hai thau nước hắt hết vào họ làm nước trên người họ chảy ròng ròng xuống sàn.

Các chiến sĩ cũng lấy nước té lại cho vợ chồng con cái bác Bun-mi. Họ vừa mới thay quần áo khô, lúc này ai ấy lại ướt thướt. Lũ trẻ cười khanh khách trong lúc vợ chồng bác Bun-mi vừa giũ nước vừa xuýt xoa nói, giọng chứa chan hy vọng:

- Năm nay rồi được phúc đây, ai cũng ướt đẫm thế này!

Gia đình bác Bun-mi được báo trước từ lâu, vẫn chờ các chiến sĩ bộ đội Tình nguyện. Bác hỏi tên từng người, giới thiệu với họ những người trong gia đình, hỏi họ về những chặng đường họ vừa vượt qua rồi bảo Chăm-pa và Khăm-phay thu xếp chỗ nằm cho họ. Lũ trẻ mang ra ba tấm đệm, xếp một dãy ở gian ngoài rồi mang tiếp ra ba chiếc gối.

Bác Bun-mi căn dặn:

- Anh em thay quần áo khô rồi đi nghỉ. Từ giờ đến tối đừng đi đâu nữa cho khỏi ướt. Ngày mai tôi sẽ dẫn anh em đi thăm bà con trong làng.

Nhưng các chiến sĩ chưa được nghỉ yên. Vừa thay xong quần áo thì các quản tượng, nghe tin bộ đội Tình nguyện đã tới, liền dẫn ngay voi đến. Tiếng cười vui và tiếng chân voi bước rầm rập dưới sàn.

Cậu bé Khăm-phay vỗ tay reo:

- Lũ voi đến chúc phúc đấy. Các anh tha hồ thích nhé!

Cô bé Chăm-pha thì bí mật thì thầm:

- Các quản tượng đến té nước. Các anh còn quần áo khô nữa không? Nếu không thì trốn ngay vào sau nhà đi, chẳng lại ướt hết mất! Trốn đi!

Các chiến sĩ không bỏ trốn mà vui vẻ ra thang đón đoàn quản tượng.

- Me. . . ẹp! (Nằm xuống!)

Cùng một lúc, mấy chục tiếng hô vang lên làm các chiến sĩ sửng sốt. Đó là các quản tượng ra lệnh cho lũ voi chào khách.

Bầy voi đông cả chục con, đứng thành một hình bán nguyệt trước sàn, nghe lệnh liền nặng nề quỳ rạp xuống và tung vòi lên, khua khua trên trời.

- Nhưn khư. . . ửn (Đứng dậy!)! – Các quản tượng lại hô vang.

Đàn voi ì ạch đứng dậy. Theo lệnh các quản tượng, chúng răm rắp quỳ xuống đứng lên đủ năm lần. Rồi bỗng phụ... ụt: các quản tượng cùng rút các ống phun đầy nước giắt ở sau lưng, phun tung tóe vào các chiến sĩ.
- Chúc phúc cho anh em bộ đội Tình nguyện Việt Nam!

Họ cùng hô to rồi cười ha hả. Nước xối ào ào. Những bộ quần áo mới thay của các chiến sĩ lại ướt đẫm.

*
Sau Tết té nước mấy hôm, bác Bun-mi lần lượt dẫn các chiến sĩ đi thăm mọi nhà trong làng.

Làng Vông-xay gồm hơn ba chục nóc nhà. Các nhà đều to và rộng, dựng trên những hàng cột nâu bóng. Trước nhà là một khoảng sàn thênh thang, làm nơi ngồi trông trăng những đêm hè. Khoảng sàn nhà bác Bun-mi càng to và rộng hơn vì đó là nơi các quản tượng thường đến họp bàn công việc.

Ở Lào, như làng Vông-xay đã là một làng to. Người nào trong làng cũng là quản tượng và mọi nhà đều nuôi voi. Nhà ít thì một con, nhà nhiều thì hai, ba con.

Ngoài ra nhà nào cũng có trâu. Trâu thả rông suốt năm, tha hồ sinh nở, đến mùa cày mới bất về xỏ mũi. Mỗi con đeo một chiếc mõ gỗ ở cổ, suốt ngày khua mõ lốc cốc ngoài rừng.

Bác Bun-mi dành nhiều ngày để đưa các chiến sĩ đến thăm từng quản tượng. Khi thì chính bác dẫn đi, khi bận thì bác giao việc đó cho Khăm-phay. Muốn yêu thích công việc gì thì phải hiểu kỹ công việc đó, vì thế trước hết bác muốn họ biết rõ đời quản tượng và biết rõ loài voi.

Mới tiếp xúc với các quản tượng, các chiến sĩ đã thấy ngay họ là những người từng trải. Do công việc, họ phải đi lại khắp nơi. Đời họ cũng như đời con voi, là những chuyến đi dài. Hình như ở đâu đâu cũng có dấu chân của họ. Khi thì họ chở một chuyến hàng xuống Cam-pu-chia, khi băng qua dòng Mê-Kông sang đến tận miền tây Thái Lan, khi thì vượt Trường Sơn sang các buôn làng Tây Nguyên của Việt Nam. Cũng có khi họ giong voi lên Lào Bắc, vượt những cánh rừng đại ngàn sang tới những công trường gỗ của Miến Điện. Họ biết rất nhiều chuyện lạ ở nơi xa và ai cũng có trong túi đủ loại tiền: đồng "riên" Cam-pu-chia, đồng "bạt" Thái Lan, đồng "ru-pi" Miến Điện. Đến đâu họ cũng có tiền tiêu và thường mua các vật kỷ niệm về bày đầy nhà: tượng các vũ nữ Khơ-me, những tập ảnh về các đền đài Ăng-Ko, những chiếc khánh bạc mua tận chùa Vàng ở Miến Điện, những tấm phá Xiêm bằng tơ bóng và đầy màu sắc. Ở nhiều nhà, các chiến sĩ còn thấy những tập sách dày nghiên cứu về loài voi, in bằng chữ Miến Điện hoặc Thái Lan: phần đông đàn ông làng Vông-xay đều biết những thứ tiếng và chữ ấy.

Những câu chuyện của những người quản tượng kể bên bếp lửa dần dần đưa các chiến sĩ vào sống giữa bầy voi, mới đây còn xa lạ với họ. Mỗi câu chuyện đem lại bao điều kỳ lạ, bao kiến thức.

Các quản tượng quả quyết rằng loài voi chẳng những có sức mạnh mà còn thông minh và có tình nghĩa chẳng kém gì con người. Chúng được mọi loài trong rừng vì nể. Khi chúng đi ăn hoặc xuống bến uống nước và tìm chỗ tắm, mọi thú vật đều lảng tránh để chúng được hoàn toàn tự do.

Chúng sống với ý thức chặt chẽ về bầy đàn. Khi một con trong bầy bị thương, dù thế nào cả bầy cũng đi chậm lại. Hai con dìu hai bên, nâng đỡ bạn mỗi khi nó bước không vững, một con đi sau tì đầu vào hông bạn mà đẩy, còn các con khác bảo vệ chung quanh. Mỗi khi bạn khuỵu xuống thì chúng cùng gào lên đau thương, lấy vòi lay đập hoặc hít nước phun cho bạn tỉnh lại, cố đưa bạn đi xa hàng ngày đường tới nơi an toàn.

Tuy tinh khôn, thỉnh thoảng cũng có con bị sa hố bẫy. Đó là bọn voi non và voi cái. Các hố bẫy được ngụy trang khôn khéo, phủ một lớp cỏ rác và phân voi, cứ như có một bầy voi nào đó vừa đi qua.

Lũ voi đực không bao giờ bị đánh lừa. Chúng thường thõng vòi xuống dò đường, có gì lạ chúng liền đứng lại và kêu to lên báo cho mọi đầu voi trong bầy cùng biết mà đề phòng.

Lũ voi cái thì khác: chúng luôn luôn cong vòi lên cao tìm hơi lạ, bảo vệ cho bầy con, vì thế chúng không nhận rõ được dấu đường dưới chân. Nhưng dù thỉnh thoảng có con sa hố, các quản tượng vẫn ít khi bắt được nó. Lũ voi trong bầy xúm đến, lấy chân giẫm cho đất ở miệng hố tụt xuống. Nếu đất rắn, chúng đi hút nước về xối cho mềm. Những khối thịt nặng nề của chúng làm đất lở rất nhanh. Chẳng mấy chốc chúng đã làm xong được một đoạn đường thoai thoải và một con đực khỏe mạnh thò vòi xuống cuốn lấy vòi con bị sa hố, kéo lên bờ.

Như các loài thú khác, loài voi có nhiều bản năng. Chúng còn có nhiều hiểu biết, do chúng truyền dạy cho nhau từ lâu đời.

Lũ voi bao giờ cũng giữ cho đường đi của chúng thênh thang để dễ dàng chạy trốn khi bị săn đuổi. Vì vậy không bao giờ chúng vứt cánh lá ăn dở trên đường, làm đường bị ngáng trở. Nhiều lúc vừa đi, chúng vừa quơ vòi sang hai bên kiếm thức ăn, miếng nào không ngon thì chúng tung đi thật xa. Nhưng lũ voi non không quen như vậy. Có lúc chúng quăng thức ăn thừa ngay dưới chân. Lập tức voi mẹ bắt chúng làm lại, cuốn những cành thừa ấy đặt vào vòi chúng rồi đẩy chúng sang bên lề đường cho chúng đem ném đi xa.

Ngoài ra các quản tượng cho biết rõ những bí mật về cuộc sống dẻo dai của chúng. Những điều bí mật ấy nằm ở đâu? Có lẽ vì trước hết, chúng sống cuộc đời hoạt động nên luôn khỏe mạnh. Ít khi gặp một con voi ốm trong rừng. Có những trận dịch tàn phá nặng nề những bầy trâu bò, hươu nai, nhưng chưa bao giờ nạn dịch tàn phá nổi một bầy voi. Lũ voi có nhiều khả năng tự chữa bệnh. Khi đau ốm, chúng biết đi kiếm lá thuộc. Khi bị thương, chúng lấy vòi vét đất sét đắp lên vết thương, giữ cho ruồi khỏi bâu.

Trong rừng có những con suốt kỳ lạ mà trừ loài voi, không loài thú nào biết đến. Những con suốt ấy chữa được bệnh. Voi ốm hoặc bị thương được các voi bạn khỏe mạnh dìu tới uống nước và đắm mình ở đó. Chúng quanh quẩn nơi đây ít lâu, thế là bệnh khỏi, vết thương kín miệng. Các quản tượng già, suốt đời đi theo dấu chân voi, biết rõ những con suối ấy.

Quản tượng làng Vông-xay kể cho các chiến sĩ nghe đủ chuyện. Nhưng tất cả những chuyện này không làm họ yêu thích bằng những chuyện về sự quyến luyến của loài voi đối với con người.

Một bác quản tượng kể lại câu chuyện của chính bác:

"Một bữa tôi đưa voi vào đầm Bãi Thụt – bác nói. – tôi muốn lấy một ít cỏ lác. Chưa đến nơi tôi đã nghe vẳng lại một chuỗi dài những tiếng voi non rền rĩ. tôi thúc voi đi nhanh. Tới nơi, tôi thấy một chú voi con đang bị thụt bùn. Bùn đã ngập đến nữa lưng nó. Bờ đầm đầy những dấu chân. Rất nhiều cánh cây bị bẻ gãy và ném ra gần chỗ con voi thụt. Chắc là bầy voi đã tìm hết cách cứu chú voi non nhưng không xong. Chúng bỏ đi từ lâu vì các dấu chân đã lạnh ngắt. Con voi non nhìn tôi bằng đôi mắt van lơn. Đôi mắt cứ như bảo: "Bác ơi, đừng bỏ mặc tôi! Đừng bỏ mặc tôi!". Tôi mủi lòng, không nỡ đứng nhìn nó chết. Nhưng cần phải có ván lót và dây thừng mà làng thì ở xa. cuối cùng tôi đánh voi về một làng gần đó, gọi người. Con vật tưởng tôi bỏ nó, vội vàng rống lên nỉ non, nài nỉ tôi ở lại.

Tôi gọi được năm người quản tượng đưa voi đến giúp. Con voi non đã bì bùn hút đến ngực, chậm một lúc nữa thì không cứu được. Chúng tôi quăng xuống gần nó hàng chục tấm ván rồi ném thừng cho con vật. Nó cuộn vòi vào thừng. Chúng tôi cho năm con voi cùng kéo. Thừng căng bần bật. Con vật nhích dần từng tí vào gần chúng tôi. Nó cố trườn lên các tấm ván. Được các tấm ván đỡ, nó nổi lên dần và cuối cùng chúng tôi đưa được nó vào bờ.

Đó là một chú voi non chừng mươi tuổi. Nó chưa đến tuổi làm việc nên tôi không muốn bắt về. Mà dù nó đến tuổi làm việc chắc cũng chẳng ai nỡ bắt: đã làm ơn thì làm ơn cho trót.

Con vật đứng run run, quơ mãi vòi lên người tôi để hít hơi. Nó cứ đứng sát mãi vào tôi như cầu xin được che chở. tôi cho nó mấy miếng đường rồi xua nó đi. Nó tung vòi lên hít hơi tôi một lần nữa rồi buông vòi xuống, ngửi và đi theo dấu chân mà bầy nó để lại trên đường.

Chuyện đó rồi tôi cũng quên đi.

Vài năm sau tôi chuẩn bị làm nhà, cái nhà mà anh em đang ngồi chơi đây. tôi chặt hai mươi cây gỗ làm cột, đã cho voi kéo về được bốn.

Một buổi sớm khi vừa giong voi đi làm, tôi chợt thấy hai cây gỗ có dấu của tôi nằm ở ven làng. tôi lạ lùng nhưng hỏi khắp cũng chẳng ai rõ vì sao. Sớm hôm sau lại thấy hai cây gỗ nữa tự nhiên chạy về.

Đêm đó, tôi ra rình ở ngoài rừng. Gần nửa đêm, thấy hai con voi lễ mễ lấy vòi khiêng một cây gỗ đi tới. 
Đường rừng không đi ngang được, chúng đi dọc, một con đi trước, một con đi sau, hai con cùng quặt vòi sang một bên để quắp lấy cây gỗ. Cây gỗ tuy không nặng lắm so với sức voi kéo nhưng mang đi bằng cách ấy thì thật quá vất vả.

Tôi nhận ra con voi non đã được tôi cứu thoát khỏi bãi lầy và một con voi cái rất lớn, dáng chừng là mẹ nó. Chắc là hai mẹ con đã theo dõi, thấy tôi kéo gỗ về làng nên giúp tôi để cảm ơn.

Đôi voi đặt cây gỗ xuống. Rồi con voi non bỗng tung vòi hít hơi. Nó rống khe khẽ, vui mừng vì nhận được hơi quen và lừng lững đi tới quơ vòi trên mặt tôi. Mấy năm đã trôi qua nhưng con voi biết ơn không quên dù nó mới chỉ ngửi hơi tôi có một lần.

Suốt mấy đêm liền, đôi voi chuyển giúp tôi mười sáu cây gỗ về làng. Những cây gỗ ấy chính là những cột tôi dùng để dựng cái sàn này..."

Con voi là thế, chẳng kể chúng đã xuống làng hay còn ở trong rừng. Vì vậy đối với chúng, các quản tượng vừa yêu thương vừa vì nể. Thương và nể không phải vì sức mạnh, vì khả năng làm việc, vì cái dáng trầm tư kiêu hãnh, nhưng trước hết vì lòng tin tưởng mà con người có thể gữi gắm ở chúng.

Các chiến sĩ hiểu rõ điều đó sau những buổi chuyện trò với các quản tượng. Dần dần họ cũng lây tâm trạng của người làng Vông-xay: họ nhìn lũ voi không phải như những con vật mà là những bạn bè.

*
Nắng chói chang. Nhịp sống ở làng Vông-xay như lắng xuống. Im ắng. Bầy voi sau phiên việc buổi sáng, đứng gà gật dưới bóng cây. Các quản tượng và các chiến sĩ ngồi bên khung cửa, cố chờ một cơn gió hiếm hoi thoảng qua. Từ khung cửa, nhìn thấy cánh đồng chạy đến chân núi. Một vài lầu gạo, nơi các gia đình cất các bó lúa, đứng chơ vơ dưới nắng. Không tiếng chim kêu, tiếng lá động. Buổi trưa Lào trống trải và xa vắng lạ thường.

Nhưng rồi bỗng nghe có tiếng hát của các cô gái. Họ đi về phía nhà bác Bun-mi. Mấy cô ngừng lại dưới một gốc me, lấy sào chọc một túi me đầy. Các cô khác đi hái trái cà dại và những trái ớt chín đỏ.

Xong xuôi, họ đứng vuốt lại mái tóc búi ngược trên đầu và bước lên sàn. Lượt nào cô bé Chăm-pha cũng hớn hở ra đón họ. Cô gọi:

- Các chị sang làm chua cho các anh ăn đấy! Thích quá!

Chăm-pa giúp các cô gái rửa những trái me chua. Họ lấy bao nhiên thứ: nào me, nào muối ớt, nào cà và lá thơm, đem giã và lấy ra bát. Rồi khép nép, họ để bát lên một chiếc mâm mây.

Một cô xinh đẹp cất tiếng mời:

- Lại ăn chua, các anh!

Các quản tượng cùng các chiến sĩ lại ngồi đối diện với họ. Cả gia đình bác Bun-mi cũng đến vây quanh chiếc mâm mây. Một mùi chua và cay lẫn mùi lá thơm làm chảy nước miếng.

Họ vừa ăn vừa trò chuyện. Món ăn tầm thường nhưng theo thói quen của người Lào, thiếu nó câu chuyện sẽ bớt mặn mà.

Thỉnh thoảng mọi người lại cùng ăn một miếng để xuýt xoa và ngừng câu chuyện để nhìn nhau.

Các cô gái có những cặp mắt rất sáng và rất dịu. Họ trở nên tươi cười vào những lúc sang mời các chiến sĩ ăn chua. Họ hỏi các chiến sĩ bao nhiêu chuyện. Cái gì cũng làm họ lạ lùng. Họ không được đi đây đó như các quản tượng, mà cuộc sống ở làng thì bằng phẳng quá! Suốt ngày làng bản vắng ngắt, chỉ vui được một lúc vào buổi sớm khi có tiếng chày đâm gạo rộn ràng. Ở đây, người ta như mất cả thói quen cười vui. Trừ những dịp hội hè, lúc nào con người cũng thầm lặng: người ta thầm lặng làm việc, thầm lặng ăn ngủ, và lúc buồn cũng như lúc vui, thầm lặng ca hát.

Vì thế các cô gái làng Vông-xay mong mỏi khách lạ và khao khát chuyện nơi xa. Những buổi ăn chua làm những ngày phẳng lặng của họ bừng vui. Chẳng những họ mà cả hai vợ chồng bác Bun-mi cũng thấy mình trẻ lại...

Các cô gái hỏi:

- Bao giờ hết Pha-lăng thì các anh làm gì? Có làm quản tượng nữa không?

- Có thể không, tiểu đội trưởng Hưng trả lời.tôi sẽ về quê làm nghề kéo mật. Làng tôi có nhiều lò đường. 
Thích lắm. Những đêm vắng lặng nghe máy ép mía kêu cót két. Chảo nước ép sôi lăn tăn, mùi đường ngọt bay lên nóng hổi.

- Còn tôi, tôi sẽ về đi biển, Đức nói. Làng tôi làm nghề chài. Các sao có biết biển không? Rộng lắm, không biết đâu là bờ bến. Nước xanh ngắt, có bao nhiêu là muốn tan trong đó.

- Phạ ơi! Có bao nhiêu là muốn tan trong đó! – Các sao nhắc lại, mắt tròn lên vì kinh ngạc. – Thế thì ở đấy chẳng bao giờ đói muối, có phải không ai Đức?

- Còn tôi – Sơn nói tiếp – tôi về đi học. tôi sẽ đi học cho đến bao giờ biết được thật nhiều. tôi muốn làm thầy giáo.

Bác Bun-mi ngắt lời anh:

- Ngày xưa, muốn học để thành "nai khu" (thầy giáo) phải là con nhà dòng dõi. . .

- Nhưng sau này sẽ khác chứ! Người không có dòng dõi cũng sẽ được đi học, chỉ kẻ lười biếng mới không học được mà thôi.

- Thế còn các sao? – Một chiến sĩ hỏi.

- Ngày nào bình yên thì thích lắm. Chúng em sẽ đi chợ thật nhiều. Phiên nào cũng đi, chợ nào cũng đi. Không thì buồn quá: làng bản đã vắng mà các quản tượng thì cứ đi biền biệt.

- Nếu có trường thì chúng em đi học. Chúng em cũng muốn biết nhiều thứ như đàn ông.

Bác Bun-mi mỉm cười:

- Bao giờ hết Pha-lăng thì sung sướng. Ai muốn đi học thì đi học. Ai muốn về làng làm nghề cũ thì về. Ai muốn đi chợ thì đi. . .

Hình như nhưng buổi ăn chua không còn là những buổi trò chuyện mà trở thành những dịp để người ta mơ mộng. Ai cũng mong mỏi có lúc tìm thấy phần hạnh phúc xứng đáng của mình. Hạnh phúc ấy thật đơn sơ nhưng nếu còn Pha-lăng thì người làng Vông-xay và các chiến sĩ chẳng khi nào thực hiện được.

Bao giờ câu chuyện cũng kéo dài cho mãi tới khi lũ voi tỉnh giấc ngủ trưa. Chúng rống lên đòi ăn trước lúc đi làm. Mọi người luyến tiếc đứng dậy. Các cô gái ra về, các quản tượng thì xuống cho voi ăn.



Buổi trưa vẫn nắng chang chang và vắng vẻ. Cây vẫn lặng gió, ve không kêu, làng bản im lìm. Nhưng các chiến sĩ thấy lòng nhẹ nhõm. Từ trên sàn, họ vừa nhìn xuống các quản tượng đang tháo xích cho voi, vừa khe khẽ hát.

-------------------------

>> Đọc tiếp chương 4
>> Mục lục & giới thiệu