Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

Phía tây Trường Sơn - Vũ Hùng (chương 2)

Đường càng lên cao, càng gai góc, hiểm trở. Dần dần đó chỉ còn là dấu vết những lối đi mơ hồ của loài thú và những vệt nước chảy kéo dài của mùa mưa năm trước. Ông già Cao và các chiến sĩ cứ nhắm phía mặt trời lặn mà leo. Khắp nơi là những cánh rừng hoang vu những vách núi cao ngất và giữa chúng là những vực sâu thẳm. Từ vách núi có thể nhìn thấy dưới xa, những túp lều đã sụp đổ, những nương rẫy bỏ hoang lâu ngày nay đã rậm rì, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng người. 


Có khi đường đi lọt xuống những thung lũng âm u, lúc nào cũng tràn ngập bóng tối. Đó là nơi con tê giác hiếm hoi sống thầm lặng bên cạnh những vũng bùn. Con vật thường đi lang thang đơn độc vào mùa rét nhưng đến mùa xuân, khi các vũng nước không còn giá băng, nó lại trở về nơi nó thường đắm mình.

Có khi các chiến sĩ thấy nó đang ngủ. Dưới mặt nước đục ngầu, có một khối đồ sộ như một khúc gỗ lớn bám dầy bùn, từ đó thò lên một chiếc sừng nhọn và một cái mõn rộng, bên trong vẳng ra những tiếng ngáy giòn giòn.

Có lúc họ thấy nó đứng im lìm, hai cái tai dài loe rộng và rách bươm vì gai rừng cào xé. Đầu và tấm da dày như tấm áo giáp của nó phủ đầy những tảng bùn khô. Chỉ riêng cái sừng của nó vì luôn được mài vào đá hoặc thân cây nên nhọn hoắt và bóng nhẵn. Nó đứng lạnh lùng nhìn các chiến sĩ, mũi hếch lên để đánh hơi. Đối với nó, hình như người chỉ là những con thú trần trụi, không móng vuốt, chẳng có gì đáng sợ.

Ông già Cao đã quen tính nết của mọi loài thú, bảo rằng con vật rất hiền lành, chỉ nổi giận khi bị chọc tức hoặc bị săn đuổi. Tuy vậy, các chiến sĩ vẫn rất dè chừng. Mỗi khi thoáng thấy bóng nó, họ đứng nấp ngay vào sau các gốc cây, tiểu đội trưởng Hưng chĩa súng ra phía trước. Rồi thì hoặc họ đi tránh theo một đường vòng, hoặc ông già Cao quật vào các cành lá để xua đuổi con vật. Thế là nó cúi ngày đầu xuống, khìn khịt hai lỗ mũi, ngả cái sừng duy nhất ra phía trước và giận dữ lao đi như một cơn bão.

Trong dịp đi qua xứ sở của loài tê giác, không đêm nào ông già Cao cho đốt lửa. Khác với mọi thú rừng, bọn tê giác cứ thấy lửa và khói là nổi giận. Nó nhắm phía có ánh sáng lao đến, xuyên qua những bụi rậm đầy gai góc và hất tung đống lửa đi khắp nơi.

Có lúc dưới suối vắng, các chiến sĩ gặp con heo vòi đứng trầm ngâm nghe nước chảy. Nó lớn bằng con bê nhỏ, đầu to, mình dài, môi trên kéo thành một cái vòi, luôn luôn ve vẩy đánh hơi. Có lúc nó vươn vòi lên bờ, bứt lá đút vào mồm. Con vật khoác tấm áo xám, từ lưng xuống đến mông là một mảng lông trắng như tấm chăn chiên. Bộ lông làm nó hoàn toàn lẫn vào các tảng đá nằm ngổn ngang giữa lòng suối, phải để ý lắm mới phân biệt nổi.

Các chiến sĩ thường thấy nó đứng một mình, ngâm nước đến bụng chân. Loài này bị bọn chó rừng và thú dữ săn đuổi ráo riết. Chẳng có gì để phòng thân, chúng phải ở riêng mỗi con một nơi để giữ gìn dòng giống. Mỗi khi bị săn đuổi, chúng rúc vào những bụi rậm rất dày, có khi đeo cả kẻ thù trên gáy nhảy xuống tận đáy nước, nhờ đó mới thoát thân.

Khi đến gần chỗ có heo vòi, các chiến sĩ đều biết trước. Con vật thường sống chung với bọn cò ngà. Lũ chim này đi lại suốt ngày trên lưng nó, bới lông nhặt bọ ở những nếp da, ở mí mắt, kẽ tai. . . Con vật cứ đứng im, đôi lúc lại kêu những tiếng trầm trầm, rầu rĩ. Chừng như nó buồn phiền vì cuộc sống lẻ loi, xa đồng loại. Khi các chiến sĩ đến gần, bọn cò ngà, bay túa lên báo hiệu cho bạn. Thế là "oạp", chú heo vòi lặn ngay xuống nước.

Một chiều, đoàn người lên đến đỉnh một ngọn núi cao. Tên ngọn núi được ghi trên bản đồ: ngọn 1457. Nó cao 1457 mét so với mặt biển.

Đứng trên cao chót vót, tưởng như chiều còn sớm. Nắng vẫn long lanh đầu núi nhưng ở phía đông, dưới chân núi, sương lam đã bắt đầu buông.

Mọi người cùng nhìn xuống những sườn núi thoai thoải đổ về phía tây.- Dưới ấy là đất Lào rồi! – Ông già Cao nói.

Trời phía tây vẫn còn vàng rực. Không thấy làng bản, có lẽ chúng ở lấp đâu đó dưới các vòm cây, mà vẫn chỉ thấy rừng rừng núi núi trùng điệp. Các rừng chuối trải rộng mênh mông, xanh ngát màu lá non, đôi chỗ bắt đầu điểm vài bông hoa đỏ. Những dòng suối lấp lánh, len lỏi dưới chân các trái núi. Xa tắp, sát chân trời, thấy nét lượn nhấp nhô của những dãy đồi.

Hưng bắc ống nhòm, quan sát. Trong các rừng chuối có những tảng lưng đen nhấp nhô, đôi lúc lại ánh lên cái ánh bạc của những cặp ngà trắng.

- Voi phải không? – Ông già Cao hỏi khi Hưng hướng mãi ống nhòm về phía các rừng chuối – Voi Lào đó!

- Nhiều lắm, bọ ạ! – Hưng trả lời trong lúc Sơn và Đức chạy lại, tranh nhau mượn cái ống nhòm trên tay anh.
Ông già Cao gật đầu:

- Phải, nhiều lắm! Mùa này chúng đang đi kiếm ăn ở các rừng chuối. Ngày mai ta sẽ gặp chúng trên đường xuống các làng Lào.

Rồi bầy voi rời xa. Chúng cũng đi tìm một chỗ nghỉ đêm. Nắng thong thả tắt. Sườn núi phía tây chìm dần trong bóng chiều. Các chiến sĩ nổi lửa nấu bữa cơm tối trong lúc tiểu đội trưởng Hưng trải tấm bản đồ lên một phiến đá lớn, cùng Ông già Cao tính đường cho ngày mai.

Khi Hưng tỉnh dậy thì trời đã sáng. Buổi sớm vắng vẻ. Muông thú ít sống trên đỉnh núi, vì vậy không thấy một tiếng chim kêu, gà gáy. Phải lắng tai mới nghe thoang thoảng tiếng vượn hú vọng lên từ dưới chân núi xa thẳm.

Các đỉnh núi dần dần nhô khỏi đám sương đang tan. Lũ sơn dương thầm lặng đứng vươn sừng trên các mỏm đá. Bộ lông đen của chúng lóng lánh dưới những tia nắng đầu tiên.

Đoàn người tiếp tục lên đường. Ông già Cao lấy trong đãy một chiếc âu bằng đồng. Lúc mới ra đi, khi thấy ông cẩn thận nhét cái âu vào giữa đám quần áo, Hưng nói:

- Chúng con có đủ "cà mèn" để nấu ăn ở dọc đường rồi, bọ đưa cái ấy đi làm gì cho nặng!

- Cái gì cũng có việc cả! – Ông già mỉm cười, trả lời. – Người đi đường xa trên Trường Sơn không thể thiếu cái này được.

Ông già treo cái âu vào một sợi dây. Ông gõ thử, tiếng đồng vang lên lanh lảnh. Các chiến sĩ còn đang lạ lùng thì ông già đã ra lệnh:

- Mọi người lấy "cà mèn" ra đi! Khi nghe lão gõ thì cứ gõ mạnh theo.

Xuống dốc chưa được bao lâu đã thấy đường đi đầy những dấu chân. Dấu nào cũng đằm sâu, to lớn. Rồi bỗng nghe có tiếng bước nặng nề ở phía trước.

- Voi đấy! Voi đấy!

Ông già Cao đang đi đầu vội đứng sững lại, kêu to. Ông hối hả gõ vào chiếc âu. "Coồng! Coồng! Coồng!..." Các chiến sĩ cũng vội lấy "cà mèn" khua xoang xoảng. Rừng núi đang im lìm bỗng náo động. Bầy voi chạy ào ào. 
Từng khối đen lù lù lao đi trong màn sương đang tan, khối nọ tiếp khối kia, làm cây cối gãy răng rắc.

Trong một buổi sớm, các chiến sĩ phải đuổi ba bốn bầy voi như thế, lấy lối xuống núi.

Hôm sau, rừng bớt rậm. Đã bắt đầu thấy dấu vết của con người, những dấu rất nhỏ, nếu không có ông già Cao thì các chiến sĩ đã bỏ qua. Đó là những vết bấm móng tay trên các cây nấm, những miếng bã trầu do các cô gái đi kiếm nấm để lại, những mẩu thuốc thừa của thợ gỗ, đã nát mủn, lấp trong đám lá dưới chân. Cả đến Ông già Cao cũng thấy bồi hồi trước những dấu vết ấy. Mọi người tầm trồ nhìn ngắm, tưởng như họ phải xa cách xã hội loài người đã từ lâu lắm.

Chỉ mới cách Việt Nam mấy vách núi mà thời tiết đã thay đổi hẳn. Nắng chang chang. Trời lúc nào cũng sáng bừng bừng, chừng như mặt trời luôn luôn ở trên đỉnh đầu, không có giờ lặn. Cây cổ thụ thân mốc bạc, cao vút và thưa lá, để lọt xuống mặt đường những vầng nắng gay gắt. Ve kêu ran và chim gáy gù "cúc cu!" đều đều trong các vòm lá lấp lánh.

Phút chốc rừng thưa lùi sau lưng và trước mặt đã thấy ruộng. Những dải ruộng hẹp và dài, viền quanh rìa núi, mảnh nọ chồng lên mảnh kia như những bậc thang. Dưới xa là làng, nằm trong những đám dừa, cau cùng những cây xoài xanh thẫm đã lác đác quả non. Nhà dựng chênh vênh trên những dãy cột, trước sàn là những cây đại lác đác hoa trắng. Giữa làng thấy một ngôi nhà gỗ rất lớn, mái nhiều lớp xếp lên nhau cong vút, Ông già Cao bảo đó là chùa.

Chùa nằm trong một hàng rào thấp và thưa như một hàng lan can. Ông già Cao lại gần một cái mõ gỗ treo trên một cành xoài. Trời đang giữa trưa, làng bản vắng ngắt. Hình như mọi người đi đâu vắng hoặc đang ngủ. Trâu bò nằm trong bóng mát, ghếch đầu lên lưng nhau, mắt nhắm nghiền. Vịt bầu đứng co một chân, dưới bóng những tàu lá ráy mọc bên bờ suối. Lợn thả rông rúc trong bụi, trốn nắng. Gà đậu từng đám trên những cối gạo dưới gầm sàn. Cả đến cây cối cũng như đang ngủ. Dừa, cau gục ngọn xuống, hoa đại khép cánh và các cây me giũ những đám lá lăn tăn.

Ông già Cao rút chiếc dùi trên cành xoài, đánh một hồi mõ gióng giả. Từ một lùm cây, một người dân quân xách súng đi ra. Anh quấn một tấm phá(4) kẻ sọc có những ô vuông màu đen, mình để trần, da bóng nhẫy và đầy những vết trổ tràm. Sau khi kiểm soát các giấy tờ, anh vui vẻ dẫn đoàn người vào làng.

Người làng đã tỉnh dậy từ khi nghe nổi tiếng mõ thứ nhất. Lũ trẻ chạy ra đứng nhìn ở ngoài sàn. Chúng là những người đầu tiên thấy khách vì chúng không ngủ trưa. Rồi chúng chạy thụt vào nhà để đánh thức cha mẹ, vừa gọi vừa hớn hở khoe mình đã thấy khách trước.

Khách đến! Khách đến! Tin truyền từ nhà này lan đến nhà khác. Làng bản bỗng tấp nập.

Có những bà già vơ vội lấy gói thịt khô, ống mật và sai con cháu đi bắt gà vịt.

- Mau lên các cháu! – Họ giục giã. – May quá, nhà đang cần muối, cần dầu lửa, đá lửa. . .

Họ lầm tưởng khách là những người đi đổi hàng.

Lũ trẻ cười rộ lên:

- Không phải người đi đổi từ dưới đồng bằng lên đâu, bộ đội Tình nguyện Việt Nam đấy. Họ từ trên núi xuống.

- Thế à? Bộ đội Việt Nam à?

Sự lầm lẫn không làm các bà già bớt vui. Họ tươi cười:

- Cứ bắt gà vịt đi! Không có người đi đổi thì mang làm quà cho bộ đội Việt Nam.

Người du kích đưa các chiến sĩ lên nhà ông pa-than(5). Cũng giống các nhà khác trong làng, nhà ông pa-than rộng nhưng ít cửa và hơi tối. Dựng những ngôi nhà như thế, người Lào cũng có dụng ý: nhà là nơi nghỉ ngơi, mà ở nước Lào thì trời nắng quá, lúc nào cũng chói chang.

Ông pa-than xếp hoa quả đầy một mâm, bưng ra mời khách. Một lát sau, người các nhà đã lục đục kéo đến. Họ góp đủ thứ quà, bày cả lên mâm: xôi, chuối, trứng, mật ong, rượu...

Những người đi bắn chim, bắn sóc ở ngoài rừng cũng chạy về. Họ đem theo những xâu chim màu lông sặc sỡ và những ống xì đồng dài đặt ở ngoài sàn. Cả những bà mẹ cũng đến, bế trong lòng những đứa bé đang lim dim ngủ. Và cuối cùng là dàn nhạc: họ mang theo khèn ghép bằng ống sậy và dàn sáo, chiêng trống.

Mọi người chắp tay lên ngực, trân trọng cúi chào. Lũ trẻ đến sau, muốn tới ngồi cạnh khách, lách qua đám người lớn. Được dạy dỗ từ tấm bé, cô cậu nào cũng lễ phép. Đi qua mặt ai, họ cũng cúi đầu, một tay vung vẩy để xin đường. Họ gọi các bạn lớn tuổi hơn bằng "anh cả", "chị cả", và gọi người đứng tuổi bằng cha, chú.

- Chị cả, anh cả ơi! Tránh cho em đi!

Trong lúc chờ đợi, các bà mẹ bỏm bẻm nhai trầu, còn đàn ông thì hút thuốc và phả khói đầy nhà.

Trừ những người du kích bận canh gác, hầu như cả làng đến chơi. Ở đây, con người sống cách biệt với mọi nơi, không có báo chí, không có phương tiện liên lạc. Cuộc sống cứ đều đều, phặng lặng. Mọi nhà săn bắn và cày cấy chút ít, vừa đủ cho nhu cầu, rồi sống trong cảnh an nhàn, không ham muốn gì hơn. Người ta chỉ làm lụng cốt cho đủ ăn đủ mặc, có một ngôi nhà để ra vào và thỉnh thoảng có một vài món ăn ngon để đưa ra chùa cho các sư. Còn những cái khác, họ coi là cái xa hoa mà muốn đổi lấy thì mất cả nghỉ ngơi yên tĩnh.

Từ ngày cách mạng, làng bản trở thành khu du kích. Ai cũng bận rộn vì công việc. Bộ đội và cán bộ từ các nơi về. Họ đem đến biết bao nhiêu chuyện nơi xa. Vì thế, cứ có người đến là cả làng kéo tới nhà ông pa-than để nghe chuyện: các chiến sĩ đi đâu, làm gì, ở nơi họ vừa rời khỏi có những chuyện gì lạ.

Các chiến sĩ kể cho người làng đủ chuyện. Chuyện dưới Việt Nam. Chuyện làm ăn, chuyện giữ làng đánh giặc. Ông già Cao dịch lại cho mọi người nghe. Cái gì cũng làm họ kinh ngạc. Chốc chốc, nhiều người lại lạ lùng kêu lên:

- "Phạ ơi" (Trời ơi!) Bộ đội Việt Nam cũng như bộ đội Ít-xa-lạ Lào, vất vả quá

Buổi họp mặt bắt đầu từ lúc trâu bò chưa đi ăn bữa chiều. Đến lúc chúng khua mõ lốc cốc, từ ngoài đồng trở về làng thì câu chuyện mới dứt. Ngoài rừng, hoẵng đã cất tiếng kêu. Đêm đang xuống. Ông pa-than đốt thêm ba bốn ngọn nến trám, làm gian nhà sáng bừng.

Dàn nhạc nổi nhạc. Mọi người xúm đến buộc những sợi dây xe bằng bông vào tay các chiến sĩ. Mỗi người được buộc đến bốn năm sợi, đầy cả cổ tay. Đó là dấu hiệu để chúc phúc. Bằng những sợi dây thân mật này, họ muốn ràng buộc các chiến sĩ với đất nước Lào. Sau lễ buộc tay, mọi người cùng khách ăn những thứ bày trên mâm cho được khước.

. . . Các chiến sĩ và Ông già Cao nghỉ ở làng vài hôm. Đến khi có một đoàn bộ đội tình nguyện trở về căn cứ thì các chiến sĩ gửi ông già cho họ, nhờ họ chăm lo ông trên đường về.

Bây giờ đến lượt các chiến sĩ chuẩn bị cho ông già lên đường. Học dành những thứ còn lại sau chuyến đi cho ông: một tấm chăn, cái "cà mèn" để nấu ăn dọc đường, lọ mắm kem, ít thịt muối, vài món quà nhỏ cho các cháu ông già ở nhà.

Nhưng ông già chẳng nhận gì ngoài cái "cà mèn". Ở phía tây Trường Sơn, trời đã nóng bức nhưng bên phía đông, đêm đêm vẫn trở rét. Các chiến sĩ ép ông già lấy tấm chăn, mãi ông mới nhận.

- Thế là đủ rồi! Ông già nói. Đừng lo cho lão mà cũng đừng phung phí. Đường xuống làng Vông-xay còn dài.
Các chiến sĩ đưa ông đến tận chân núi. Ông căn dặn:

- Các con đi cho bình yên và học sớm thành nghề. Bao giờ học xong nhớ giong bầy voi về thăm lão cho vui.

*
Đường bắt đầu qua nhiều bản làng, với những cánh đồng nho nhỏ, nằm giữa rừng phẳng bao la. Cứ buổi chiều, người đưa đường lại đưa các chiến sĩ vào ăn ngủ ở trong làng và trao họ cho một người dẫn đường mới.

Họ đi dần xuống ven đồng bằng.

Đất Lào hình như không có mùa xuân. Càng rời xa chân núi, nắng càng gay gắt. Đâu đâu cũng thấy vẻ hoang sơ. Các lòng suối vẫn khô cạn. Trên những đường mòn dài vô tận, thỉnh thoảng lại nghe tiếng tre nứa nứt vỡ vì nắng và tiếng rìu chặt gỗ vang vang. Cảnh vật đơn điệu như nhắc lại những chặng đường họ mới vượt qua. Nhưng càng đi, các chiến sĩ càng thấy những điều kỳ lạ. Bất kỳ ở đâu, sau một vòm cây, một ngách núi, họ đều có thể gặp nhiều cái bất ngờ.

Tiểu đội trưởng Hưng ghi trong nhật ký:

Ngày 1 tháng 4 năm 1947.

. . . Ruồi bay khắp nơi. Người dẫn đường bảo: đâu có ruồi bay thì ở đó có thú ẩn náu. Bác ta nói không sai: chỉ đi vài bước đã thấy các gốc cây ven đường đầy những vết mài và những dấu lông.

Người dẫn đường quả quyết: đó là dấu lợn rừng. Có thể đã sắp đến chỗ lợn làm ổ đẻ. Gần tháng đẻ, lợn mẹ thay lông mới. Phải cọ sạch đám bùn đọng từ bao tháng nay trên lưng. Lợn mẹ dũi vào thân cây, cố làm tróc những mảng lông cũ.

Một lát sau, đã gặp đàn lợn len lỏi trong các bụi rậm. Con lớn lông xám. Bọn lợn nhỏ, có lẽ là lứa lợn năm ngoái, mang những vạch lông trắng trên lưng. Lợn đực có đôi nanh dài và nhọn, hơi quặp về phía sau, bằng một thứ ngà rất trắng.

Thấy người, đàn lợn chạy hồng hộc, để lại những cái ổ rỗng không. Ba bốn cái ổ làm gần nhau, cái nào cũng rộng. Người đưa đường bảo: trước hết lợn mẹ đè giập một bụi cây xuống rồi tha củi, gỗ, cỏ tranh lấp lên cho dày. Sau đó nó cúi rạp vào, lấy lưng nâng bổng cả khối đó lên làm một cái mái che nắng. Rồi nó dũi đất hất ra bốn bên, đắp nền cho ổ thêm vững.

Ổ chỉ có một cửa ra vào. Lòng ổ trũng sâu và được lót cỏ tranh khô. Tháng bảy tháng tám thì lợn mẹ đẻ. Lũ lợn con mới đẻ đã biết chạy. Được vài ngày đã biết ra ngoài chơi với các lợn con ở ổ bạn, thoáng thấy động là chạy thụt vào. Trong khi đó, bọn lợn bố với đôi nanh vô cùng lợi hại quanh quẩn bên cạnh, sẵn sàng bảo về đàn con chống lại lũ thú dữ. Bao giờ đàn con đã lớn, cả bầy lại lên đường đi kiếm ăn, tới các đầm lầy hoặc đồng cỏ.

Thợ săn thường đến các ổ, quây lưới bắt lợn con về nuôi. Người đưa đường nói rằng chính bác đã nuôi hai lứa lợn rừng như thế.

Ngày 2 tháng 4 năm 1947.

Chiều nay nghỉ ở làng Pà-khoai, Pà-khoai nghĩa là "Rừng trâu". Trâu ăn từng bầy dưới bãi cỏ ở ven làng, không xỏ mũi, không buộc thừng mà cũng không đeo mõ. Thấy người, chúng ngừng ăn, ngước nhìn bằng những cặp mắt hiền lành, tròn và rất to.

- Trâu rừng đó! Người đưa đường nói.

Khi thấy anh em tỏ vẻ nghi hoặc, bác quả quyết:

- Trâu rừng thật mà! Lúc nào có người mua thì ra bắt về.

Vào làng mới biết là thực. Có những bầy trâu rừng rất đông sống ở những bãi lau sậy gần làng. Người ta rắc muối, rử chúng về. Chúng theo dấu muối, ăn dần đến làng, nhập vào đàn trâu nhà và thong dong sống ở ngoài đồng, quen dần người hệt như lũ trâu đã thuần.

Hằng năm, làng Pà-khoai bắt được ba bốn chục trâu hoang như thế, bán sang Việt Nam.

Ngày 3 tháng 4 năm 1947.

Chợ Na-cai. Một chợ lớn trên bến dưới thuyền. Từ những con thuyền độc mộc, nhiều người ì ạch vác những chiếc ngà voi và những sọt hàng lên bờ. Người bán hàng cắm ô hoặc cắm những tàu lá cọ làm mái che. Khách chợ ở xa ba bốn ngày đường cũng tới. Các cô gái, cô nào cũng xòe một chiếc dù lụa trên đầu.

Chợ bán bánh tráng và rất nhiều hoa, từ các túm hoa ngào ngạt để cài đầu, các dây hoa để đeo cổ đến những bắp hoa chuối làm rau ghém.

Khu hàng thịt rừng. Dăm ba người thợ săn dựng một giàn bằng những cây cột lớn, treo ngược một chú heo vòi. Mấy chú cá sấu gớm guốc, mõm và chân đã bị trói chặt, nằm trên những chiếc sạp lớn. Một phản thịt gấu ngồn ngộn, bên cạnh bày bốn bàn chân gấu để làm tin...

Rất nhiều hàng trầu cau. Các bà già và các cô gái, hình như ai cũng ăn trầu. Dãy lâm sản đầy hàng quý: da thú, cánh kiến, mật ong và sáp, trầm hương, quế. . .

Có một dãy hàng đặc biệt: người bán ngồi sau một chiếc mâm mây, trên bày vài chiếc đĩa nhỏ xíu, đựng những mảnh vụn li ti, lấp lánh. Thỉnh thoảng có những vụn lớn bằng nữa cái mày ngô, phản chiếu ánh nắng rực rỡ. Đó là những vụn vàng, sàng được ở những bờ cát ngoài suối. Các cô gái trẻ đến mua vàng về để đúc bông tai hoặc bịt răng. Ở đây ai cũng thích có những chiếc răng vàng óng ánh.

Hỏi một cô gái bán hàng:

- Suối có nhiều vàng không?

- Cũng có.

- Một ngày sàng được bao nhiêu?

Cô gái lấy móng tay, gảy lên dăm bảy vụn vàng bằng dăm bảy hạt cát.

- Vất vả không? Mỗi ngày sàng bao nhiêu sàng?

- Chẳng đếm được! Phải ngồi lâu lắm, đau lưng lắm.

Rồi cô gái nói thêm:

- Càng muốn được vàng đẹp, càng phải sàng lâu.

Ngày 4 tháng 4.

Trưa nay gặp một đoàn thợ gỗ. Thấy họ vào ăn nhờ trong chùa.

Ở các nhà Lào, từ đời này qua đời khác, bữa ăn nào người ta cũng thổi thêm xôi, dành làm phúc cho khách lỡ đường. Nhưng đoàn thợ gỗ không lên nhà ai vì họ đông, phải ra ngoài chùa mới kiếm đủ thức ăn.

Người làng cắt lượt nhau, mỗi ngày dăm ba người nấu cơm cho sư. Ai đến lượt đều sung sướng, làm cơm ngon canh ngọt mang ra chùa. Cơm canh nhiều, sư ăn không hết, người ta đem bày ra trước sân dành cho khách qua đường, không có khách thì tung cho chim chóc làm phúc chứ không mang về.

Buổi trưa, đi qua một quán lữ khách: cơm canh bày sẵn, ai cũng có thể vào ăn tự nhiên. Ăn xong, thành tâm thì làm một việc gì đó cho nhà chùa: sửa sang lại cái hàng rào hoặc quét những lá muỗm, những cánh hoa đại rụng lác đác trên sân...

Ngày 5 tháng 4.

Hôm nay nghỉ sớm. Được dự một cuộc vui bất ngờ. Khi người dẫn đường đưa lên nhà ông pa-than thì đã thấy nhà đầy người. Một ban nhạc ngồi bên những nhạc cụ ngổn ngang. Những chiếc khèn ghép bằng mười sáu ống sậy. Vài chiếc trống. Một khung tre bịt da, có đính một hàng lục lạc. Một dàn cồng mười sáu chiếc, đặt thành một hình bán nguyệt, và đôi dùi đầu bọc da voi. Cây đàn thuyền với một dãy những mảnh gỗ dày mỏng khác nhau có hai que gõ gác chéo trên mặt. Những cây nhị, bầu là những chiếc gáo dừa...

Đám thiếu nữ mặc xiêm áo ngày hội ngồi cạnh người trùm phường đã đứng tuổi. Đó là những người hát của dàn nhạc.

Im ắng. Khách không dám động mạnh, rón rén đi lên. Không ai chú ý đến khách. Mọi người nhìn đăm đăm vào một căn buồng khép kín, từ đó có tiếng thở và tiếng lục đục vẳng ra khe khẽ.

Bỗng cửa buồng mở tung. Có tiếng trẻ khóc oa oa. Một người hiện trên khung cửa, trìu mến nhìn ban nhạc, tay khoát rộng:

- Nổi nhạc lên! Nổi nhạc lên!

Họ chờ một đứa bé ra đời. Gian nhà ồn ào hẳn. Các cô gái đứng dậy, sửa lại váy và bắt đầu múa. Thân thể và tay chân họ mềm như những dây rừng. Tiếng trống bập bung, tiếng cồng lanh lảnh và tiếng lục lạc rung rinh hòa với tiếng hát ngân cao.

Hai chiếc que gõ của cây đàn thuyền lướt nhanh trên những phím gỗ bập bềnh. Các cây khèn lắc lư, ngả nghiêng, che lấp khuôn mặt người thổi, chỉ còn thấy lấp ló những cặp mắt say mê.

Những đứa bé đang bú mẹ cũng mở to mắt, lắng nghe. Tất cả, cả người đưa đường, giậm chân làm rung rinh sàn nứa. Rồi ai nấy đều say sưa hát theo nhạc và nhảy múa như những ngọn lửa. Lúc này người nhà mới biết có khách vì chỉ riêng khách đứng yên. Ông chủ nhà chạy lại mời:

- Anh em múa cùng cho vui. Mừng cho cháu bé ra đời!

Khách lắc đầu, cười:

- Bó hụ phon! Bó hụ(6)

Người đến mừng rất đông. Cuộc vui kéo dài đến xế chiều. Chủ nhà mời khách ăn xôi, thịt gà và uống rượu pha với nước dừa non, thoang thoảng hơi men. Trong lúc đó dàn, các cô gái vẫn múa.

Người Lào đón một đứa bé ra đời như vậy.

Ngày 6 tháng 4.

Gặp những người Miến Điện từ Lào Bắc xuống. Họ mặc áo cánh trắng, quấn váy xà rông sặc sỡ, khăn trắng buộc chéo thành hai tai trên đầu. Ai cũng cao, gầy và đen. Đó là những người thợ trổ tràm. Công việc của họ là trang trí cho bộ ngực, đôi tay và hai cái đùi của các cậu con trai Lào. Hình chạm trổ là những nét chữ ngoắn ngoèo đầu cọp, đầu voi hoặc những ô vuông và những hình quả trám chằng chít như mắt lưới.

Người đưa đường hỏi:

- Làm ăn có khá không, các bác?

- Ối! chẳng ra gì!

Những người thợ trổ chàm này đi khắp nơi trên đất Lào như các ông phó cối dưới Việt đi đóng cối đây đó, tới khắp các làng xóm.

Trước đây họ rất được ưa chuộng, được săn đón và mời cơm rượu. Bây giờ họ vẫn được mời cơm rượu như bất cứ khách qua đường nào khác nhưng không còn việc làm vì các cậu con trai Lào không thích trổ chàm nữa. Mỗi thế hệ nghĩ về cuộc sống một khác: ngày nay công việc được chú ý đến hơn cả là xây dựng khu du kích và đi học.

Trước đây, ở các bản hẻo lánh không có trường. Con trai muốn biết đọc, biết viết thì đi tu: nhà chùa dạy chữ. Vì thế hầu hết con trai Lào đều ở chùa vài bốn năm. Đi tu vừa là nghĩa vụ lại vừa được học, bao giờ đọc thông viết thạo, họ mới trở về làm ruộng.

Ngày nay việc học được mở rộng, bản làng nào cũng có lớp học buổi tối. Thầy giáo là cán bộ cơ sở, bộ đội. Cả làng đi học. Các cụ già đầu bạc, các bà mẹ ôm con, các cô, cậu bé măng sữa, tất cả cắm cúi trên những cuốn vỡ nhàu nát, dưới ánh lửa những cây "cà boong"(nến trám) đầy khói.

Ngày 7 tháng 4.

Trời nóng hầm hập như một lò than. Không đâu có một vũng nước. Khát khô cổ. Đến trưa thấy một nương giữa rừng. Ai cũng háo hức rảo bước, hy vọng tới đó sẽ xin được nước uống.

Nương vắng ngắt, chỉ thấy những cây gỗ cháy dở nằm ngổn ngang. Ngô đã gieo nhưng chưa nảy mầm được vì nắng quá. Từng dòng kiến rừng đông nghịt tha những hạt cơm khô. Trong lúc chờ ngô nảy mầm, cứ vài ngày một lần, người ta cứ phải rắc cơn khô trên lối kiến đi để chúng khỏi bới và tha mất hạt giống.
Chòi canh dựng khuất ở một góc nương. Trong chòi có đủ thứ: hai ống tre đựng nước, cái bếp, gạo, thịt khô. Ở một góc có hai cây mía.

Người đưa đường rút dao, chặt mía thành những tấm nhỏ, chia cho mọi người. Rồi bác đun nước, vo gạo, nấu xôi, nướng thịt, tự nhiên cứ y như ở nhà bác vậy. Bác nói: người Lào dựng chòi trên nương, không phải vì mình mà vì tất cả những ai cơ lỡ.

Trước lúc lên đường, bác lấy một đồng "kíp" và xin hai viên đá lửa, gói cẩn thận và treo lơ lửng giữa chòi. Ngày mai, người chủ nương thấy gói quà sẽ rất sung sướng vì biết có khách lỡ đường đã đến nghỉ và gặp may mắn trên chòi của mình.

Người đi xa trên đất Lào vẫn làm như thế: qua những vườn mía, nương dưa vắng chủ, nếu cần thì cứ việc ăn rồi treo đâu đó, ở chỗ dễ nhìn, một món quà.

Không ai lấy trộm những món quá ấy!

---------------------------

>> Đọc tiếp chương 3