Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

Phía tây Trường Sơn - Vũ Hùng (chương 1)

Đi một ngày đàng
Học một sàng khôn. 

Người sĩ quan tham mưu trải tấm bản đồ trên mặt một phiến đá rộng nằm dưới một lùm cây rừng. Ba chiến sĩ vậy quanh ông: tiểu đội trưởng Hưng và hai đội viên Sơn, Đức. Họ đều trẻ măng, tiểu đội trưởng Hưng lớn tuổi nhất cũng chưa quá hai mươi.


Hôm trước, họ được lệnh thanh toán sáu tháng tiền ăn rồi mang ba lô lên trung đoàn bộ. Có lệnh phải đi gấp. Ai cũng băn khoăn, dò đoán. Có lẽ về khu dự một khóa quân chính? Hay vượt Trường Sơn đi chuẩn bị chiến trường?

Mọi dự đoán của họ đều sai. Một nhiệm vụ khó khăn và bất ngờ đang chờ họ.

Trung đoàn quân tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào phải thường xuyên qua lại Trường Sơn, khi thì về căn cứ, khi thì sang vùng du kích của anh em Pa-thét Lào. Trên những con đường đầy dốc đèo hiểm trở, không có phương tiện vận tải nào thích hợp hơn voi. Anh em Lào tặng cho trung đoàn ba con voi. Hưng cùng hai đội viên được cử đi học điều khiển và giong chúng về.

Chính "ông trung đoàn" đã trực tiếp gặp họ. Ông nói:

- Trung đoàn thành lập một đội voi tải. Các đồng chí sẽ thành những quản tượng đầu tiên của trung đoàn ta. Học xong, các đồng chí sẽ về huấn luyện cho nhiều người khác.

Các chiến sĩ lặng im. Lệnh đột ngột quá. Có lẽ không ai thích làm quản tượng vì đã ai biết quản tượng là gì đâu. Ở đơn vị với anh em, sống chết vui buồn có nhau đã quen nên chẳng ai muốn đi xa. Nhưng các chiến sĩ vốn yêu mến người chỉ huy và quen phục tùng mệnh lệnh. Họ sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ, chỉ mong khi đánh giặc xong, ai nấy được trở lại với những công việc bình thường của mình. Thế là họ ra về, chuẩn bị lên đường.

Một sĩ quan tham mưu phổ biến nhiệm vụ cho họ:

- Đây, các cậu phải vượt dãy núi này – ông nói, tay lượn theo dãy núi và những cánh rừng được vẽ thành những vân màu xanh xám trên bản đồ – Sẽ có một người dẫn đường đưa các cậu tới khu du kích của anh em Lào. Đoạn đường này không có bản làng nhưng sang đến phía tây Trường Sơn thì đường đã dễ đi. Anh em Lào sẽ đưa các cậu xuống làng Vông-xay dưới Nam Lào. Người làng Vông-xay nuôi voi như nuôi trâu, các cậu sẽ học thành quản tượng ở đó.

Người sĩ quan tham mưu chỉ tay vào một chấm đen. Bản Vông-xay nằm trong vùng ba biên giới, phía nam giáp Cam-pu-chia và phía đông giáp vùng Tây Nguyên của Việt Nam.

Để tránh đồn địch và những đoạn đường bị chúng kiểm soát, các chiến sĩ phải vạch lối đi trong rừng già Trường Sơn. Theo vệt tay của người sĩ quan tham mưu, các chiến sĩ thấy đường họ đi chỉ là những nét đứt đoạn giữa những vân núi. Đỉnh núi được ghi bằng các chiều cao, ngọn 1270, ngọn 1420, ngọn 1035 ... Từ phía căn cứ, đường lên ngày một dốc nhưng đến biên giới thì xuống thấp dần.

Người sĩ quan tham mưu lấy trong xà cột một chiếc địa bàn đặc biệt. Chiếc địa bàn này có một bánh xe và một mặt số. Ông lăn bánh xe theo các vân núi, chiều dài đoạn đường hiện lên trên mặt số và được đối chiếu với tỷ lệ xích của bản đồ.

Từ phía đông sang đến phía tây Trường Sơn: hơn một trăm cây số đường hiểm trở, lượn theo các ngách núi. Trên thực địa, đường lên đốc, xuống vực, dài ít ra cũng gấp ba bốn lần. Còn từ biên giới xuống đến làng Vông-xay, đường bằng phẳng hơn, dài ba trăm tám mươi cây. Nhưng đó chỉ là ước toán vì đường trên bản đồ có bao giờ phản ánh đúng đường trên thực địa, dù bản đồ đó là bản đồ tham mưu.

Các chiến sĩ phải chuẩn bị lương ăn hai mươi ngày để vướt Trường Sơn. Sang đến khu du lịch Lào, anh em bộ đội Lào sẽ lo ăn uống cho họ. Họ được phép, trong những trường hợp thật cần thiết, vay lương thực của dân và làm giấy biên nhận. Sau này, đơn vị sẽ mang các đồ dùng như dao, rựa, thuổng, cuốc, nồi đồng, muối... lên trả nợ.

Tiểu đội trưởng Hưng được chỉ định là người phụ trách. Anh có nhiệm vụ đưa các chiến sĩ đến làng Vông-xay, tới nhà một bác dạy voi tên là Bun-mi.

- Chúng tôi sẽ học ở làng Vông-xay bao lâu? – Tiểu đội trưởng Hưng hỏi.

- Nếu học nhanh thì về sớm. Có thể chừng một năm hoặc một năm rưỡi.

- Trời! Sao lâu thế?

- Thế đấy! Anh em Lào bảo như vậy đã là nhanh. Chỉ riêng làm quen với lũ voi cũng đã phải mất hàng tháng. Thế mà lại còn phải học điều khiển chúng, dạy chúng quen với đường xa, quen súng đạn.

Sau khi trao nhiệm vụ và căn dặn các chiền sĩ phải giong đàn voi về căn cứ an toàn, người sĩ quan tham mưu đưa cho mỗi người một ít đồng "kíp" làm tiền giắt lưng: Ông còn trao cho mỗi người một cuốn sách "Tự học tiếng Lào".

Các chiến sĩ giở thoáng một vài trang, xem qua các tấm ảnh. Ảnh một vùng trời nước mênh mông với một đàn voi và một bờ xa, dưới để "Hoàng hôn trên Nậm Khoỏng"(1). Ảnh những cây đại đầy hoa trước một ngôi nhà sàn xinh xắn, đề "Mùa hoa Chămpa"(2)...

- Các cậu phải cố học mỗi ngày dăm câu – người sĩ quan tham mưu căn dặn – Mọi việc bây giờ phải lo liệu lấy, không thể mỗi lúc lại đi tìm người phiên dịch như khi còn ở đơn vị. Có gì không hiểu thì cứ hỏi người đưa đường. Làm thế nào để sau khi vượt Trường Sơn, các cậu đã có thể tự hỏi đường và tìm nơi ăn ngủ.

Các chiến sĩ bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị. Mỗi người mang theo mười lăm cân gạo, đựng trong một bao to để vác vai và một bao nhỏ buộc quanh bụng. Họ rang thịt với muối, đúc đầy ba ống tre làm thức ăn khô. Mỗi người được phát hai lọ "mắm kem" – một thứ nước mắm thơm phức, đã được cô đặc để tiện mang đi đường –, một ít vừng lạc để ăn thay mỡ cùng vài chục bánh đường đen, thứ đường vẫn bán ở chợ làm nhân bánh trôi nước. Ngoài ra họ còn được phát bản đồ, địa bàn, bật lửa và đá lửa, thuốc phòng sốt rét..., nghĩa là đủ mọi thứ cần thiết cho người đi đường xa trong rừng.

Các chiến sĩ chia lương thực và các đồ dùng thành bốn phần đều nhau: ba phần cho họ, còn một phần dành cho người đưa đường.

Hai hôm sau, người sĩ quan tham mưu dẫn một ông già đến lán các chiến sĩ.- Đây là bọ Cao – ông giới thiệu.
Ông già Cao được chính quyền địa phương cử đến dẫn họ sang khu du kích Lào, theo một con đường bí mật. Hồi Pháp thuộc, ông già thường đi lại trên con đường này: hằng năm ông vẫn cùng người làng gánh muối sang đổi trâu bò ở các làng Lào rồi đem về bán dưới đồng bằng.

Ông già Cao đã trên sáu mươi tuổi nhưng còn tráng kiện, nhanh nhẹn. Ông thuộc lứa người hoạt động, xông pha nắng gió nhiều nên lâu già. Vóc người ông cao lớn, râu tóc còn đen, thỉnh thoảng mới thấy một vài sợi tóc bạc. Ông quấn khăn đầu rìu bằng nhiễu tím, mặc một bộ quần áo nâu đã cũ, ngoài phủ bộ cánh nái nhuộm vỏ đà. Hành lý của ông gói gọn trong một tấm vải đeo trên vai, tấm vải đồng thời dùng lam chăn. Ông mang theo một con dao rừng to bản, một cây ná đã lên nước nâu bóng và một ống tên đầy.

Công việc đầu tiên của ông già Cao là giúp kinh nghiệm đi đường cho các chiến sĩ. Tiểu đội trưởng Hưng báo cáo tình hình chuẩn bị của họ. Nghe xong, ông gìa cứ lắc đầu hoài:

- Chưa được! Thế thì chưa được!

Đoạn đường vượt Trường Sơn tuy hoang vu, không làng bản nhưng không đáng lo. Các chiến sĩ chỉ cần đem theo gạo muối, còn mọi thức ăn đều có thể tìm được ở dọc đường.

Họ có thể kiếm thịt tươi trong rừng: trước khi đi ngủ chỉ cần đặt vài cái bẫy nhỏ trên lối xuống bến nước là đến sáng ít ra cũng được một con chồn, con nhím hoặc một chú cheo cheo. Nếu không muốn đặt bẫy thì sau bữa ăn chiều có thể soi đuốc đi bắt cua hoặc chém cá. Những con cá rất lớn ở các suối rừng, chưa hề bị săn bắt, cứ thấy ánh đuốc là lượn lờ tìm đến. Còn rau tươi thì không thiếu gì: ở những đầm lầy dưới thung lũng có rau súng, rau ngổ, củ ấu, ven suối có nấm, rau ớt, mũi mác, cỏ phổng, cải xoong, rau đay, ở những nơi khô cạn hoặc trên đồi có me rừng, bầu dất dại, dây bìm, chua ngút, cườm cườm; ở ven rừng và trên các nương rẫy bỏ hoang có mào gà trắng, cúc dại, mảnh cộng, lạc tiên, rau tàu bay..., và ngay trong rừng, dưới bóng các cây khác, cũng có rau ngon như tai voi, móng ngựa, chua kham, môn thục...

Theo ông già Cao thì cần chú ý đến đoạn đường bên phía tây Trường Sơn hơn. Đường bên ấy nhiều làng bản, dễ kiếm thức ăn nhưng phải đề phòng địch phục kích hoặc càn quét. Họ có thể lạc đường và dù sao nơi đó cũng là "đồng đất nước người", các chiến sĩ chưa quen "thung thổ" lại chưa thạo tiếng.

Ông già hỏi:

- Anh em mang theo mỗi người bao nhiêu viên đá lửa, bao nhiêu cân muối?

- Mỗi người mười viên – tiểu đổi trưởng Hưng trả lời – còn muối thì phần lớn đã trộn vào thịt làm thức ăn khô cho tiện.

- Không được! – Ông già lại lắc đầu.

Ông bảo các chiến sĩ phải bỏ bớt gạo để mang thêm ít nhất là mười cân muối. Sang đến các bản làng bên phía tây Trường Sơn, có muối là khắc có gạo. Một cân muối có thể đổi được hai mươi cân gạo nếp, lại vừa giúp anh em du kích Lào khỏi phải xuống mua muối ở các chợ xa.

Ngoài ra ông già khuyên các chiến sĩ hãy đem sinh hoạt phí xuống chợ mua các hàng lặt vặt như đá lửa, kim chỉ, gương lược... Đường bên phía tây Trường Sơn đi qua nhiều vùng xa chợ, ở đó người dân không quen tiêu tiền và không quen mua bán. Cứ vài tháng lại có người thồ hàng trên lưng voi tới làng. Họ đổi gà lợn, thóc gạo, da thú và các lâm sản quý lấy đồ dùng hằng ngày và vải vóc. Một bát muối hoặc dăm viên đá lửa đổi một đôi gà. Vài sải vải, kèm thêm ít lúm chỉ màu và cái gương cái lược cho các cô gái là đủ để đổi một con lợn ba bốn yến.

Nghe lời ông già, tiểu đội trưởng Hưng xin lĩnh thêm muối và cử người xuống chợ mua hàng. Sáu tháng sinh hoạt phí của họ chẳng được là bao: tiểu đội trưởng Hưng mỗi tháng được phát một khoản tiền tiêu vặt tương đương với giá bốn cân gạo, còn các chiến sĩ thì lĩnh ba cân. Họ dồn hết tiền, mua thêm được dăm chục viên đá lửa, một ít đồ dùng khác và vài chục vuông vải. Các chiến sĩ thấy thế ít quá nhưng ông già Cao bảo là đã tạm đủ cho chuyến đi, có thể còn dư đôi chút để xuống làm quà cho người làng Vông-xay.

- Anh em đã có một kho đồ quý trong tay rồi – ông già vui vẻ nói – Anh em có thể đi mấy tháng trên đường mà không gặp khó khăn.

Trên đất Lào, người đi đường xa với cái túi rỗng cũng có thể đến mọi nơi. Người Lào mến khách và không vụ lợi, nhiều khi nuôi khách hàng tháng trong nhà. Họ làm việc đó vì lòng nhân đức, không đắn đo, không mong được đền ơn dù họ cũng rất nghèo. Chỉ cần bước lên sàn là đã được họ mời ăn, khách lỡ đường không cần phải cầu xin. Khi ra đi, chỉ cần vài lời cảm ơn hoặc nếu có một vật gì đó tặng cho họ thì họ đã lấy làm sung sướng lắm.

Các chiến sĩ bỏ bớt gạo lại. Tuy vậy mỗi người đã mang trên vai đến mấy chục cân. Ngoài ra họ còn phải mang vũ khí: tiểu đội trưởng Hưng đeo một cây súng trường cũ kỹ và dài nghêu, các chiến sĩ khác đeo mỗi người hai quả lựu đạn bên sườn. Những đồ vật mua được cũng chia đều làm bốn, mỗi người giữ một phần phòng khi lạc nhau còn có cái dùng.

Chuẩn bị xong, đoàn người lên đường. Hôm ấy là một ngày giữa mùa xuân năm 1947.

*
Trời mới tang tảng sáng, Hưng đã cựa mình tỉnh dậy. Nằm trên nệm lá khô anh ngỡ mình vẫn đang ở giữa làng quê. Gió rì rào chung quanh, như bên những khóm tre làng. Một con gà vỗ cánh gáy đâu đó, trong những bờ bụi còn vương vất bóng đêm. Cũng giống ở dưới làng, những con gà khác liền đua nhau gáy theo, tiếng nọ nối tiếp tiếng kia tưởng như đang lan tới các chòm xóm xa gần.

Nghe lũ gà gáy sớm, bầy vượn liền lên tiếng. Từ trên ngọn cây và vách đá, những tiếng hú trầm bổng cùng nổi vang dội. Buổi sớm vắng lặng bỗng trở nên náo nhiệt.

Cảm giác mà tiếng gà đưa tới đã tan: Hưng nhớ lại anh đang ở giữa Trường Sơn. Sớm nay là sớm thứ tám anh tỉnh dậy giữa rừng.

Đêm qua vẫn không xảy ra chuyện gì khác thường. Nhưng Hưng và các chiến sĩ đều đã bắt đầu biết: rừng đêm im lặng song không bao giờ yêu tĩnh. Trong bóng tối, mọi vật len lén đi kiếm ăn. Cuộc sống rừng là một cuộc vật lộn âm thầm nhưng ác liệt. Con nào cũng muốn nhìn thấy con khác và muốn che giấu mình, dù chúng tấn công hay lẩn tránh.

Mỗi đêm giữa rừng hoang là một đêm khắc khoải. Giấc ngủ trở nên chập chờn. Biết bao cặp mắt rình các chiến sĩ trong bóng tối sâu thẳm, còn họ thì chẳng nhìn thấy gì bên ngoài đống lửa.

Buổi chiều khi dừng chân, ông già Cao thường cố chọn một chỗ thuận lợi: một bến nước xa vách núi và ít dấu chân, một chỗ nằm quang đãng xa những bụi rậm mà thú dữ có thể rình nấp, một chỗ nhiều củi để đốt lửa được thâu đêm. Bao giờ ông già cũng nhận phiên canh quan trọng nhất, từ nửa đêm đến gần sáng, giờ mà thú dữ thường ráo riết đi săn muồi. Ông như nhìn thấy và nghe thấy hết: từ tiếng vỗ cánh thoang thoảng của con cú bên trên các vòm cây đến tiếng bước êm như nhung của con báo lảng vảng trong bóng tối. Nhiều khi đang nằm yên, ông già bỗng nhỏm dậy, lắng nghe. Không ai bảo ai, mọi người đều nhỏm dậy, tay nắm lấy vũ khí. Phải chờ đến khi ông già bẻ thêm củi ném vào bếp và thong thả nằm xuống thì mọi người mới yên tâm nằm xuống theo.

. . . Qua một đêm giá lạnh, đống lửa đã tàn. Ông già Cao cùng người trực nhật dậy trước đang gầy lại bếp, nấu bữa ăn sáng. Ông ngồi im lặng hút thuốc, thỉnh thoảng lại phả từng đám khói vào làn sương sớm. Khói thuốc cay cay cùng hơi cơm sôi nóng hổi hòa theo lửa ấm loang loang tới các nệm lá. Khi các chiến sĩ thu xếp xong ba lô thì cơm vừa chín. Họ xuống suối đánh răng rửa mặt rồi về ngồi ăn quanh đống lửa.

Từ ngày đi sâu vào lòng Trường Sơn, tới các vách đá nơi bầy vượn ẩn náu thì bữa cơm sáng trở lên ồn ào. Ai muốn nói đều phải nói thật to mới át được tiếng hú miên man của lũ vượn trên đầu.

Phải đợi khi nắng lên, vượn kêu đã mỏi thì rừng mới trở lại im ắng. Giờ này là giờ chúng vui đùa. Chúng thoắt nhảy lên, thoắt lao tới, có lúc kiết thành một sợi dây vắt ngang, đu đưa giữa hai cành cây. Nhưng một đầu dây bỗng rời ra, cả bầy buông mình thõng xuống. Rồi con cuối cùng lại đu lên, bắt lấy một cành cây khác và cứ thế cái dây vượn đen kịt nhịp nhàng vắt từ cây nọ sang cây kia như một con sâu đo rất lớn.

Bao giờ sương tan hết, các chiến sĩ mới lên đường.

Trong lúc chờ đợi, ông già Cao dạy mọi người vài câu tiếng Lào. Người đi đường xa cần nhất phải biết hỏi đường và tìm nơi ăn ngủ. Những câu đầu tiên mà các chiến sĩ học cũng nhằm mục đích ấy.

Ông già Cao đọc to từng câu, các chiến sĩ lần lượt đọc theo. Chỉ sau mấy hôm, ai cũng đã thuộc được dăm bảy câu thông thường để chào hỏi, mua bán và tìm đường.

Buổi sớm mới ra đi, chân còn dẻo, lưng còn cứng, mọi người đều hăng hái. Trời tạnh ráo, ấm áp, sau những cơn lạnh kéo dài. Bướm bay đầy trên những khoảng đất còn ẩm, nơi có những đám rêu xanh. Chim đi tìm sâu, nhảy lách tách trong bụi rậm. Từng bầy sóc ngồi ăn trên các cành cây, thỉnh thoảng lại lấy chân trước đập đập lên những sợi râu và chơm chớp cặp mắt đen láy để nhìn người.

Rừng đã trút bỏ tấm áo mùa đông và mặc xong tấm áo rực rỡ của mùa xuân. Các đồi gianh dạt dào dưới xa, xanh rờn. Đâu đâu cũng thấy hoa lá tươi non. Những lớp rêu mới mịn như nhung phủ kín các vách núi trước đây xám ngắt. Cả đến các cây cổ thụ già nua cũng trẻ lại. Chúng giũ hết những chiếc lá úa màu vàng chanh xuống đầy dưới gốc và từ những cành trước đây còn khẳng khiu trơ trụi đã nảy ra những vầng lá non bát ngát.
Không còn thấy những con thú đói ăn gầy guộc của mùa đông, lưng mang bộ lông đang rụng, bạc màu và xơ xác. Cây cỏ đầy chồi xanh, thức ăn thừa thãi, con vật nào cũng no béo. Bọn thú có gạc đã thay xong bộ lông mới. Chúng lũ ba lũ bảy rong ruổi rừng xuân, cứ như trời sinh ra mùa xuân là cốt để cho chúng thỏa chích chơi bời. Có khi chúng đưa nhau đến sát đường đi. Bạo dạn nhất trong bọn có lẽ là lũ cà tong. Chúng có những cặp tai to bên trong phủ lông trắng muốt, những cặp sừng nhiều nhánh dài và mảnh dẻ. Bộ áo của chúng làm chúng lẫn hẳn vào khung cảnh chung quanh: màu lông nâu lẫn vào màu đất rừng và những dấu sao trắng trên lưng lẫn với những đốm nắng lọt qua các kẽ lá.

Các chiến sĩ muốn bắn một con vì thức ăn đã cạn. Chỉ cần đường hoàng lại gần chúng, giơ súng lên và nếu muốn chắc chắn thì tì súng vào một cành cây.

Ông già Cao đã ngăn họ:

- Thôi đừng! Đang mùa xuân, để cho chúng sinh đẻ. Thế anh em không nghe thấy tiếng gì hay sao?

Các chiến sĩ còn đang ngơ ngác thì ông già đã nói tiếp:

- Tiếng đàn xuân! Đấy, đàn đang gảy đấy!

Mọi người lắng nghe. Chỉ thấy tiếng lá rì rào, tiếng chim hót ở xa, tiếng róc rách của những con suối chớm có nước, tiếng khua của những cặp sừng cà tong và tiếng móng của chúng bước nhẹ trên đường.

- Có thấy tiếng đàn nào đâu? – Các chiến sĩ cùng hỏi.

- Đấy, đàn đang gảy đấy! – Ông già mỉm cười nhắc lại, chừng như ông nghe rõ lắm.

Mọi người lại hết sức lắng nghe. Mãi sau họ mới phân biệt được trong tiếng rừng lao xao, có những tiếng gì đó thỉnh thoảng lại rung lên khe khẽ, như tiếng rung của những dây tơ giữa tiếng chim kêu thoang thoảng. Đó là tiếng của các giọt nước rơi từ thạch nhũ xuống vũng. Chúng ngân vang trong những hang động sâu thẳm, dội đi đội lại nhiều lần qua các vách đá trước lúc bay ra ngoài.

Ông già Cao hỏi:

- Cái tiếng rung rung ấy, anh em nghe có giống tiếng đàn không?

Ông già bảo người các làng gọi đó là tiếng đàn xuân.

Một truyền thuyết dễ thương đã được thêu dệt quanh tiếng nước rơi từ các thạch nhũ: mùa xuân, thần gió căng những dây đàn trên cặp gạc của bọn cà tong và bọn hươu nai, đánh lên thánh thót theo tiếng chim, cho muôn loài vui chơi ca hát. Cứ lắng nghe đi, sẽ thấy tiếng đàn ấy giữa muôn thứ tiếng rừng. Vì thế mà vào mùa xuân, bọn cà toong và hươu nai được coi là những con vật thiêng liêng. Không ai săn bắt chúng trong những ngày ấy. Mà có săn bắt thì cũng trượt mồi...

Ông già Cao kết luận:

- Ai cũng biết đấy là chuyện hoang đường vậy mà vẫn cứ tuân theo. Đó là một tực lệ để giữ mồi săn: mùa xuân là mùa chúng sinh sản.

Hình như bọn cà tong tinh khôn biết được điều đó. Vì thế mà chúng chẳng hề sợ sệt khi thấy bóng người. Lũ cà tong non lại gần đường đến nỗi tưởng chừng có thể lấy tay sờ được vào những mạng sườn phập phồng của chúng! Cả bầy cùng nghển cổ lên, ngả đôi gạc được dùng để căng dây đàn ra sau lưng, đứng nhìn các chiến sĩ bằng đôi mắt ngơ ngác trong veo.
*
Trời chiều. Vào những buổi chiều xuân ấm áp, rừng Trường Sơn tràn đầy ánh nắng. Nắng vàng hoe trên những cây cổ thụ cao ngất, tán chạm trời xanh. Từng đàn chim về tổ vỗ những cặp cánh sặc sỡ, vẽ trong nắng những đường bay lấp loáng.

Dưới vòm cây, các chiến sĩ đang rảo bước. Nhân những ngày nắng ấm, họ cố đi cho được nhiều đường.

Ông già Cao dẫn đầu đoàn người. Ông vẫn đeo gói hành lý trên vai, giắt ngang lưng con dao rừng to bản, tay cầm cây ná nâu bóng. Bộ cánh nái nhuộm vỏ đà của ông đã bị gai cào rách ba bốn chỗ.

Càng vào sâu, rừng già càng vắng lặng, chỉ nghe tiếng sột soạt như tiếng đất hoang cựa mình đón bước chân người.

Chợt một tiếng rống dội lên rền vang. Tiếp sau có tiếng chân nặng nề đạp trên lá rụng. Ông già Cao kêu to:

- Voi! Có Voi!

Trong khoảnh khắc, các chiến sĩ đã nấp những gốc cây. Tiểu đội trưởng Hưng chĩa súng về phía tiếng động.
Riêng Ông già Cao vẫn đứng giữa đường. Ông lắng nghe rồi trở nên nhanh nhẹn, mắt bừng sáng vì một niềm vui bất ngờ. Ngoảnh lại phía sau, thấy Hưng đang chuẩn bị bắn, ông xua tay:

- Buông súng xuồng! Ông Một đấy mà! Đừng làm ông Một giận.

Ông Một đủng đỉnh bước ra khỏi lùm cây. Đó là một con voi đực già. Nó chỉ còn một chiếc ngà nguyên vẹn, còn chiếc kia đã gãy. Da nó nhăn nheo, trán gồ cao, cặp mất đã mờ đục và cái ngà thì trĩu xuống như quá nặng đối với sức nó. Chỉ duy cái dáng đi của nó là còn giữ được vẻ hùng tráng của loài voi. Con vật bước những bước nặng nề nhưng điềm đạm, tự tin, vừa vung vẩy cái vòi dài, vừa thong thả tiến về phía đoàn người.

Đợi con vật đến trước mặt, Ông già Cao đặt cây ná xuống đất và cung kính cúi chào:

- Chào ông Một ạ!

Chào xong, ông vẫy các chiến sĩ. Từ sau các gốc cây, họ lạ lùng đi tới.

Con voi đứng lại, đưa vòi lên hít hơi ông già. Cái dáng già nua của nó làm ông lão buồn thiu. Ông vuốt mãi cái vòi và lắc lắc chiếc ngà rồi bỗng run run nói:

- Ai ngờ lại gặp ông Một ở đây. Lâu nay ông có mạnh giỏi không? Chao ôi! Ông Một già đi quá, cái ngà của ông lung lay sắp rụng mất rồi.

Con voi buông vòi xuống. Các chiến sĩ thấy trên cái lưng xương xẩu của nó những vết hằn. Đó là dấu cái bành, ở đó lông không mọc lại và da đóng sẹo.

Ông già Cao trầm ngâm nhìn mãi lớp sẹo, tưởng chừng ông đang tìm lại ở đó những vết cũ này đã phai mờ. Lát sau ông đưa bàn tay gầy khô lên giụi mắt và quay lại hỏi:

- Ai có đường cho tôi một bánh.

Tiểu đội trưởng Hưng lấy một bánh đường phên trong túi đưa cho ông.

- Vài bánh nữa! – Ông già Cao giục.

Sơn và Đức cùng tiến lại, lấy phần đường của họ trao cho ông già.

Ông lão bẻ đường, đưa từng miếng cho con voi. Con vật vươn vòi hít lấy, thong thả đưa vào mồm.

Vừa cho con voi ăn, ông gìa vừa thì thầm:

- Bấy lâu ông Một đi những đâu mà chẳng thấy xuống làng? Người làng đợi ông lắm! Có mấy nương mía vẫn dành đó, chờ ông xuống chơi.

Con voi đã ăn xong. Nó năng nề nhấc chân, như muốn đòi đi. Ông già Cao lại cung kính cúi chào:

- Chào Ông Một về. Đêm nay chúng tôi ngủ lại gần đây, nhờ ông xua thú dữ đi cho chúng tôi được ngủ yên.
Con voi rống một tiếng rền vang. Nó hít hơi ông già và lần lượt hít hơi từng người rồi thong thả bỏ đi trước những cặp mắt kinh ngạc của các chiến sĩ.

Mọi người trông theo cho đến khi cái bóng to lớn của con vật khuất sau những hàng cây.

Họ ngủ lại dưới rừng thông, một trong những rừng thông thường gặp trên các đỉnh núi cao của dãy Trường Sơn. Đêm se lạnh, không khí nhẹ lâng, ngào ngạt. Lá thông reo hát vi vu và nhìn qua đám lá lăn tăn, thấy muôn nghìn vì sao lấp lánh trên trời đêm tím biếc.

Ông già Cao đốt một đống lửa bằng củi thông thơm phức. Câu chuyện bắt đầu:

". . . Ngày ấy qua đã lâu rồi. Nghĩa quân của đế đốc Lê Trực(3) dựng căn cứ chống Pháp trong những cánh rừng này. Họ đã chống giặc nhiều năm nhưng sự nghiệp không thành. Giặc vây hãm và nghĩa quân dần dần tan tác.

Ông đề đốc buộc phải về quê đợi thời. Trong quân có một con voi trận đã từng bao phen cùng ông đề đốc xông pha lửa đạn. Ông tăng con vật cho người quản tượng thân tín, người này đưa nó về làng.

Khi ấy con voi còn trẻ đẹp. Nó đen bóng và to lớn. Con vật trông nặng nề, nhưng rất khôn ngoan. Cặp mắt nó nhỏ và lim dim suốt ngày như bị chói nắng thế mà nhìn thấu cả cái lá động từ xa. Hai tai nó to bằng hai cái quạt lúa và luôn luôn ve vẩy. Khi nó xòe tai lắng nghe thì không một tiếng động nào có thể lọt qua. Cái vòi của nó đầy căng hai chét tay người lớn, lúc nào cũng đung đưa mềm mại. Mỗi lần ông đề đốc đưa nó ra trận, cái vòi của nó quật ngang quật dọc làm những tên giặc Tây bắn vung lên như những cọng rơm. Bốn chân con voi sừng sững như bốn cột đình. Bàn chân to nện trên đất rừng thình thịch. Nhưng bốn cẳng chân đó có thể chạy thoăn thoắt, cuốn bụi và đưa cái mình to lớn của con voi lao đi, xô vào lũ giặc như núi lở.

Con voi còn có một đôi ngà dài và đẹp, trắng ngần, hai đầu nhọn hoắt như hai mũi gươm. Nhưng một chiếc ngà đã bị bắn gãy, chỉ còn một chiếc nguyên vẹn nên con vật càng ra công mài giũa. Thỉnh thoảng trong lúc đợi ăn nó vẫn cọ chiếc ngà vào cái cột gỗ nơi nó bị xích chân, cho thêm bóng.

Ra trận với chiếc ngà duy nhất, con voi càng xông xáo, dữ tợn. Nó đã lập nhiều chiến công. Nghĩa binh trìu mến gọi nó là "Ông Một".

Nhưng mọi cái đó giờ không còn nữa.

Từ ngày rời căn cứ, con voi trở nên ủ rũ. Nó nhớ ông đề đốc, nhớ đời chiến trận, nhớ rừng và gầy rạc đi vì cuộc sống tù túng dưới làng. Nó vẫn giúp người quản tượng phá rẫy, kéo gỗ, nhưng chỉ khuây khỏa những lúc làm việc rồi sau đó lại đứng buồn thiu. Có bận nó bỏ ăn, không đụng vòi đến một ngọn mía, một sợi cỏ.
Người quản tượng hiểu lòng con voi. Nó là nguồn an ủi của ông trong lúc sa cơ. Ông chưa từng sống với ai lâu như sống với nó. Ông quen nó quá, khó xa rời nó được. Vậy mà ông vẫn quyết định thả nó về rừng, nơi nó ra đời.

- Một mình ta chịu tù túng cũng đủ rồi – người quản tượng thường tự bảo – Còn nó, nó phải được buông thả.
Người quản tượng đinh ninh rằng gặp thời vận, đề đốc Lê Trực sẽ lại dấy quân và lúc đó ông sẽ đi đón con voi trở lại. Ông để con vật nghỉ hết vụ hè và vỗ cho nó ăn. Ngày nào ông cũng cho nó ăn thêm hai vác mía to và hai thùng cháo. Ông coi con voi như con em trong nhà, giục giã nó:

- Ăn cố đi, ăn cho khỏe, lấy sức mà về. Rừng già xa lắm, phải có sức mới đi tới nơi. Bao giờ chủ tướng dấy quân, lúc đó ta sẽ đón em trở lại.

Con voi đã cố ăn suốt mùa hè nhưng sang đến mùa thu thì không chịu ăn nữa. Trời thu yên tĩnh, gió rì rào đưa về làng hương vị của rừng xa. Con vật cứ vươn vòi đón gió và buồn bã rống gọi. Nó héo hon đi như một chiếc lá già.

Người quản tượng biết gió thu nổi làm con voi nhớ rừng. Ông quyết định thả ngay nó đi.

Một sớm, ông mời rất cả các bô lão trong làng đến nhà để chia tay với con voi. Họ đều thân thuộc với nó và coi nó như một người bạn. Ai cũng mang đến cho nó một món quà: người mang vác mía, người mang thùng cháo, người mang đến vài bánh đường. Ai nấy đều tự tay đưa món quà của mìmh lên miệng con voi. Khi con vật ăn xong, người quản tượng tháo xích ra khỏi chân nó. Nó giãy giãy cái chân đã nhẹ tênh, ra vẻ vừa lòng. Các bô lão đem đến một dây lá thiên tuế, thứ lá rừng tươi xanh được lâu, buộc một vòng quanh ngực con vật. Đó là dấu hiệu để báo với thợ săn trong vùng: con voi của ông đề đốc được buông thả, đừng ai ham chiếc ngà mà săn nó.

Người quản tượng và các bô lão nắm lấy vòi con voi, dắt nó ra đến dòng sông đầu làng. Đến đó, người quản tượng ôm chặt cái vòi vào ngực. Con voi khẽ rút vòi ra, lưu luyến hơi ông già và các bô lão rồi chậm rãi bước xuống dòng sông, chân giẫm vỡ những mảnh trời trong in dưới đáy nước. Lên đến bờ, con vật quay lại vươn vòi rống gọi. Tiếng rống tha thiết làm người quản tượng và các bô lão mủi lòng. Người quản tượng nói theo:
- Thôi, đi cho bình yên! Trời thương nếu đất nước gặp vận, chủ tướng lại ra quân thì ta sẽ lên núi đón em về.
Con voi đi đâu không ai biết, chỉ thấy hằng năm khi sang thu, nó lại xuống làng. Nó rống gọi rộn ràng từ xa, trước khi lội qua bến sông. Nghe tiếng rống, người làng bảo nhau: ông Một đã về. Họ nô nức cùng người quản tượng ra đón nó ở tận đầu làng.

Con voi theo người quản tượng về mái nhà cũ, quỳ ở giữa sân. Thấy con vật luyến chủ trở về, người quản tượng như trẻ lại. Ông dẫn nó đi tắm rồi hớn hở đưa nó lên nương – ông vẫn trồng sẵn cho nó một nương mía – thết nó những bữa no nê.

Vào những ngày ấy, nhà ông tưng bừng và chật ních người. Lũ trẻ kéo đến xúm xít dưới chân voi, còn các bô lão thì lại như xưa, đem đến cho nó đủ thứ quà.

Con voi thường lưu lại nhà người quản tượng vài hôm. Nó giúp ông đủ việc: nó cuốn các ống bắng ra sống lấy nước và không cần người đưa dắt, lên nương lấy vòi quắp những cây gỗ mang về.

Buổi chiều, khi công việc đã xong, người quản tượng đưa nó đi diễu quanh làng. Vắng ông đề đốc cùng lá cờ trận sạm đen khói súng nhưng buổi diễu voi vẫn vô cùng náo nhiệt và trang trọng. Người quản tượng đóng bành, mới các bô lão cao tuổi nhất ngồi lên đó. Còn ông và đứa con trai thì ngồi ở cổ voi, tay khua cây đòng sáng ngời. Lũ trẻ chia làm hai toán: một toán đi trước, gõ tong tong trên những chiếc trống khẩu, toán còn lại thì tay que tay gậy, à à kéo theo chân voi.

Được mười năm như thế, người quản tượng qua đời. Ông mất giữa lúc đất nước còn tối tăm, thời vận dấy quân chưa tới để ông đi đón con voi trở lại.

Lần ấy khi con voi xuống làng thì người quản tượng không còn nữa. Không thấy ông ra đón ở đầu làng, con voi rảo bước về nhà. Nó quỳ xuống giữa sân, rống gọi, rền rĩ hoài mà vẫn không thấy người quản tượng đi ra. Khi biết mọi tiếng rống gọi đều vô ích, con voi lồng chạy vào nhà. Cái thân hình to lớn của nó làm sập khung cửa nhỏ và đổ gãy các đồ đạc. Con vật hít hơi cái giường cũ của người quản tượng rồi buồn bã đi ra, chạy khắp làng tìm chủ. Các bô lão mang mía đến cho nó nhưng con voi không ăn mà chứ lồng chạy như một con voi hoang.

Từ đó mấy năm con voi mới lại xuống làng một lần.

Nó trở nên lăng lẽ, đảo qua cái nhà cũ của người quản tượng, tha thẩn đi trong sân, vừa tung vòi hít ngửi khắp chỗ vừa khe khẽ rền rĩ rồi âm thầm bỏ đi. . .

. . . Ông già Cao đăm đăm nhìn ngọn lưa đang tàn. Lâu lắm ông mới chậm rãi nói tiếp:

- Ngày cha lão thả ông Một vào rừng, lão còn nhỏ. Lão nhớ khi ông Một ra đi, cha lão cứ im lặng như người câm. Mãi tới khi ông Một về thăm, cha lão mới cười nói. Trong dịp đó, lão thường cùng lũ trẻ xúm xít dưới chân ông Một, xem ông ăn rồi theo chân cha lão, giong ông đi diễu quanh làng. Năm nào không thấy ông Một xuống thì nhớ, cứ ra đứng ngóng ở bến sông. Việc ấy nhắc đi nhắc lại thành lệ, cho đến lúc đứng tuổi mà vẫn còn trông ngóng. Thế nhưng đã mấy chục năm nay không thấy ông Một trở về. Có lẽ vì ông đã già mà đường xuống làng thì xa. . .

Trời đã khuya. Sương đêm đọng trên cao rơi những giọt lạnh ngắt xuống các chiến sĩ. Ông già Cao chất thêm củi. Lửa bừng cháy, bốc ngùn ngụt, thổi giạt các tàn lá trên đầu. Các chiến sĩ vun lá thông làm ổ, nằm quanh đống lửa ấm. Ai cũng thao thức. Lá thông lao xao mỗi khi trở mình, người nọ nghe người kia trằn trọc thâu đêm.



Ông Một quanh quẩn đâu đây dưới chân đồi, đôi lúc lại rống gọi. Tiếng ông loang dài trong đêm vắng. Các chiến sĩ nghe trong tiếng gọi có lẫn tiếng hò reo, tiếng gươm đao xô xát và tiếng cha ông giục giã lên đường.



-------------------------

>> Đọc tiếp chương 2
>> Mục lục & giới thiệu