Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2017

Nước non Bình Định - Quách Tấn (phần đầu)

Nước non Bình Định của Quách Tấn, có thể nói là một tác phẩm xuất sắc và công phu. Đối với những người yêu thích và nghiên cứu về lịch sử, địa lý nói chung, về xứ Bình Định nói riêng, thì đây là một tác phẩm không thể không biết đến và phải ngả đầu thán phục về công sức kết tinh, những tri thức chuyên sâu và tầm vóc đồ sộ của nó.

Một cảnh núi non và biển ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định




Vài nét về Quách Tấn:

Quách Tấn (1910-1992), tự là Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên, các tiểu hiệu là Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão giữ vườn; là một nhà thơ Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn.

Quách Tấn là người con ưu tú của Bình Định. Lúc nhỏ Quách Tấn học chữ Hán. Đến 12 tuổi, ông mới bắt đầu học Quốc ngữ và Pháp ngữ tại trường Pháp Việt Quy Nhơn (nay là Quốc học Quy Nhơn), rồi đậu cao đẳng tiểu học (primaire Supérieur) năm 1929.

- 1930, làm phán sự Tòa sứ tại Tòa khâm sứ Huế, rồi đổi lên Tòa sứ Đồng Nai Thượng ở Đà Lạt.

- 1935, về làm việc tại Tòa sứ Nha Trang.

-1939, xuất bản tập thơ đầu tay: Một tấm lòng (Tản Đà đề tựa, Hàn Mặc Tử đề bạt).

- 1945, tản cư về Bình Định tham gia chống Pháp, làm thủ quỹ cho Ủy ban ủng hộ kháng chiến và Mặt trận liên hiệp quốc dân huyện Bình Khê.

- 1949, mở Trường trung học tư thục Mai Xuân Thưởng tại thôn An Chánh huyện Bình Khê.

- 1951, được trưng dụng dạy Trường trung học An Nhơn rồi Trường trung học Bình Khê.

- 1954, hồi cư về Nha Trang được tái bổ vào ngạch thư ký hành chánh.

- 1955, làm tại tòa hành chánh Quy Nhơn cho đến 1957. Tiếp theo, ông giữ chức Phó tỉnh trưởng tỉnh Bình Định. Nhờ cương vị này, Quách Tấn đã can thiệp với chính quyền địa phương, chọn được một vùng đất địa thế đẹp tại Ghềnh Ráng (Quy Nhơn), rồi chuyển hài cốt người bạn tri âm là thi sĩ Hàn Mặc Tử từ nghĩa trang nhà thương phong Quy Hòa về an táng tại đây. Ít lâu sau, Quách Tấn đổi về Sở Du lịch Huế (1957-1958), Ty Kiến thiết Nha Trang (1958-1963), rồi giữ chức Phó tỉnh trưởng tỉnh Khánh Hòa (1963-1965)

- 1965, nghỉ hưu tại nhà số 12 đường Bến Chợ Nha Trang (gần chợ Đầm), tiếp tục viết văn làm thơ.

- 1987, ông lâm cảnh mù lòa rồi mất ngày 21 tháng 12 năm 1992 tại Nha Trang, hưởng thọ 82 tuổi.

Quách Tấn lập gia đình năm 1929. Vợ ông là bà Nguyễn Thị Nhiếp, hiệu Thanh Tâm, sinh trưởng tại Phú Phong, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

Tác phẩm

Thơ:

Một tấm lòng: tập thơ, 1939, gồm hai phần chính và một phần phụ lục, có lời “Tựa” của Tản Đà, lời “Bạt” của Hàn Mặc Tử.
Mùa cổ điển: tập thơ, 1941.
Ðọng bóng chiều: tập thơ, gồm 108 bài thất ngôn tứ tuyệt, Kim Lai ấn quán in năm 1965.
Mộng Ngân sơn: tập thơ, gồm 135 bài ngũ ngôn tứ tuyệt, Nxb Hoa Nắng (Paris) ấn hành năm 1966.
Giọt trăng: tập thơ, gồm 60 bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, Nxb Rừng Trúc (Paris) ấn hành năm 1973.
Trăng hoàng hôn: tập thơ, gồm 60 bài thơ lục bát tứ tuyệt, Nxb Trẻ ấn hành năm 1999.
Tuyển tập thơ Quách Tấn: do Quách Giao (con trai ông) tuyển chọn, Nxb Hội Nhà Văn ấn hành năm 2006.
Ngoài ra ông còn 13 tập thơ chưa xuất bản.

Văn

Trăng ma lầu Việt: gồm 2 tập, viết phỏng theo Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đời Hậu Lê. Tập 1 xuất bản năm 1943. Năm 1947, viết thêm tập 2. Năm 2003, Nxb Thanh Niên in chung thành một quyển.
Non nước Bình Định: tập địa phương chí Bình Định, Nam Cường xuất bản năm 1968. Nxb Thanh Niên tái bản năm 1999.
Xứ Trầm hương: tập địa phương chí Khánh Hòa, Nxb Lá Bối ấn hành năm 1970.
Đời Bích Khê: tập hồi ký của Quách Tấn viết về cuộc đời và thơ của thi sĩ Bích Khê. Nxb Lửa Thiêng ấn hành năm 1971.
Đôi nét về Hàn Mặc Tử: in trong Bán nguyệt san Văn số 7, Sài Gòn, 1967; in lại trong Hàn Mặc Tử - hôm qua & hôm nay, Nxb Hội Nhà Văn, 1996.
Họ Nguyễn thôn Vân Sơn (1988)
Nét bút giai nhân (1988)
Bước lãng du: giới thiệu danh lam, thắng tích từ Huế đến Ninh Thuận, Nxb Trẻ ấn hành năm 1996.
Thi pháp thơ Đường: gồm 26 bức thư và một bài tựa "Chút lòng" gởi cho các bạn trẻ yêu thích thơ Đường, Nxb Trẻ ấn hành năm 1998.
Bóng ngày qua: hồi ký của Quách Tấn dày trên 2.000 trang đánh máy, xếp thành 10 tập. Đã xuất bản được các tập: Đời văn chương (1998), Bàn thành tứ hữu (2001), Tình thầy bạn (2003), Trường Xuyên thi thoại (2000), Những mảnh gương xưa (2001), Hương vườn cũ (2007), Nguồn đạo trong thơ văn (2007),...
Ngoài ra ông còn 20 tập văn chưa xuất bản.

Viết chung với con trai là Quách Giao các tập:

Nhà Tây Sơn (xb năm 1988, đã được tái bản nhiều lần)
Võ nhân Bình Định (Nxb Trẻ ấn hành năm 2001)
Đào Tấn và Hát bội Bình Định (xuất bản năm 2007)

...
----------------------------------

NƯỚC NON BÌNH ĐỊNH 

MỤC LỤC

1.Lời thưa

2. Đồng bằng - bờ biển, Cửa biển - đầm ao
- Đồng bằng.
- Bờ biển và cửa biển : cửa Kim Bồng, An Giũ, Hà Ra, Đề Ghi, Vũng Tô suối Bún, Cách Thử, Thị Nại, Quy Nhơn ...
- Đầm ao: Trà Ô, Đạm Thủy, Thị Nại, Ngạc Đàm, Giao Trì

3.Thắng cảnh - cổ tích
- Các ngọn tháp: Phú Lốc, Cánh Tiên, Thị Thiện, Đôi, Dương Long, Thủ Thiện (Ngà), ...
- Các dấu thành cũ: Cha, Đồ Bàn, Bình Định, Uất Trì ...
- Các lăng: Võ Tánh, Ngô Tùng Châu  ...
- Sông suối: sông Côn, Hà Thanh, La Tinh, Lại Giang, Đá Hàng, Thạch Yển, La Vỹ, Tân Quan, An Tượng   ...
- Suối: Đá Trải, suối nóng Hội Vân, Từ Bi, Đá dàn, Đục, các suối nước ngọt ...
- Các ngôi chùa: Thập tháp, Linh Phong ...

4. Núi non
- Núi: Thạch Tân, núi Bà, núi Ông, Hương Sơn, Kim Sơn, Bích Khê, Lạc Phụng, hòn Chuông, Triều Châu ...
- Đèo, dốc, hang: Nhông, An Khê, Ô Phi, hang Chàng Lía  ...

( Lưu ý: nội dung khá dài, đọc nhiều lần quý vị nhé)


--------------------------------------------

1. Lời thưa
( Vui lòng chờ cập nhật)

------------------------------------------------

2. Đồng bằng – bờ biển, Cửa biển – đầm ao

Đồng bằng

Diện tích toàn tỉnh Bình Định phỏng chừng tám nghìn cây số vuông, tức 800 nghìn mẫu tây. Núi non chiếm hơn 2/3 diện tích. Còn độ trên dưới 200 nghìn mẫu Tây là đồng bằng.

Đồng Bình Định là cánh đồng lớn trong những cánh đồng lớn ở trung Việt. Nhưng không được nhất trí như đồng ở nam Việt. Đồng thường bị núi gò làm gián đoạn. Song đoạn nào cũng bát ngát mênh mông, nhất là những cánh đồng ở lưu vực những con sông lớn, như Côn Giang, Lại Giang…. thì sắc xanh của hoa màu liền với sắc xanh của trời biếc.

Ngoài những cánh đồng ở bình nguyên, Bình Định còn nhiều cánh đồng ở nơi miền núi.

Những cánh đồng ở bình nguyên đã có từ khi người Chiêm Thành làm chúa lãnh thổ. Và khi người Việt Nam định cư thì những nơi ở trong lưu vực các con sông lớn được khai thác, khẩn hoang lần lần, từ bình nguyên lên miền núi.

Đồng ở bình nguyên thì lấy tên địa phương mà gọi. Còn ở nơi miền núi, thì có tên riêng từng vùng. Như ở Hoài Nhơn có đồng Vuông ở giữa thung lũng núi thuộc xã Hoài Sơn.

Ở An Lão có đồng Dài tức là đồng Thanh Lương, chạy từ Năng An đến Truông Ổi.

Đồng Dí, đồng Dớn ở vùng Kim Sơn.

Đồng Đế ở xã Mỹ Chánh, quận Phù Mỹ.

Nhiều nhất ở Bình Khê (nay một phần thuộc tỉnh Gia Lai và phần thuộc tỉnh Bình Định là huyện Tây Sơn). Những đồng có danh như:

Đồng Hươu tức Lộc Đỗng, nơi xưa kia nghĩa quân Cần Vương đóng tổng hành dinh nay đã trở thành một xóm ruộng tốt người đông, thuộc thôn Phú Phong, xã Bình Phú.

Đồng Vụ thuộc thôn Trinh Tường, xã Bình Tường. Đây là nơi đóng trại trữ lương của nghĩa quân, tục gọi là nam trại.

Đồng Vụ gồm có đồng Vụ nội và đồng Vụ ngoại. Hiện giờ đồng Vụ nội cũng như ngoại là một đồng lúa phì nhiêu, rộng rãi, chung quanh có núi non, có sông suối. Dấu tích nghĩa quân Cần Vương không còn tìm thấy.
Nhưng nhân dân ở đồng Vụ không mấy ai quên trận đánh Pháp ở đây.

Đó là năm Bính Tuất (1886), quân Pháp kéo lên đánh Bình Khê. Nghĩa quân rút lui vào mật khu. Quân địch không tìm ra dấu vết liền đóng binh tại đình Phú Phong cho bọn Việt gian đi dọ thám. Dò biết được lực lượng của địch, Mai nguyên soái bố trí phục kích ở hai bên đường vào đồng Vụ. Quân địch cho điều tra thấy nghĩa binh đóng ở đồng Vụ nội, bèn tiến binh công kích. Để quân địch vào sâu trận địa rồi, nghĩa quân hét lên một tiếng vang trời dậy đất rồi bốn mặt đổ xô ra chém giết. Địch trở tay không kịp, lớp bị chết lớp quăng súng chạy. Nghĩa quân đại thắng. Quân địch rút lui về Quy Nhơn. Từ ấy, những lúc hành binh, địch không dám đi vào sâu trong làng xóm ở xa quốc lộ.

Trong trận này địch bị thương nhiều hơn chết. Và trong số quân tử trận có một tên chỉ huy ngoại quốc, mà nghĩa binh gọi là "ma ní" (vì không phải Pháp chính cống). Chí căm thù xâm lăng lên tới cực độ, và cuộc chiến thắng đồng Vụ kích động tinh thần nghĩa quân đã hăng càng thêm hăng.

Phía trong đồng Vụ, ném về phía Tây Nam, có đồng Le. Tại vùng núi đồng Le có Linh Đỗng là mật khu của nghĩa quân.

Ba nơi đồng Hươu, đồng Vụ, đồng Le ở cách nhau xa nhưng có đường liên lạc bí mật. Đó là khi xưa, chớ hiện nay thì đường qua lại đã mở rộng.

Trong vùng kế cận ba đồng trên, còn nhiều đồng khác như đồng Sim, đồng Gian, đồng Tranh, đồng Dầu, đồng Sa… Những cánh đồng này trước kia đã khai thác, nhưng hiện nay phần nhiều đều bị bỏ hoang.
Những đồng kể trên đều ở phía tả ngạn sông Côn. Phía hữu ngạn còn có một đồng nữa, đất rất phì nhiêu, ruộng cấy hai mùa không bao giờ mất: đó là đồng Quan, nơi nghĩa binh đóng bắc trại.

Ngoài ra, còn nhiều đồng khác, song không có chi đáng nêu.

Những tên đồng ở nơi miền núi, thường thường cổ nhân theo đặc điểm ở mỗi chỗ mà đặt danh. Nhiều nơi hiện nay danh còn đúng với thật. Như đồng Sim vẫn còn nhiều sim, đồng Dầu vẫn còn nhiều cây dầu rái… Nhưng có nhiều nơi đã thay đổi khác. Ví dụ đồng Hươu tên chữ là "Lộc Đỗng" khi xưa có rất nhiều nai. Cổ nhân có câu:

Lên đồng Hươu giục chó săn nai, bị cọp rượt chạy đà giáp ngựa
Xuống quán Ngỗng mua gà ấp vịt, rủi diều tha nuôi thật uổng công.

Nhưng ngày nay thì lộc đã không có mà nai cũng ít thấy bóng nơi núi nơi rừng. Cho nên người địa phương có câu:

Tiết trời đông chí người nhiều rận,
Vùng đất đồng Hươu núi ít nai.

Đồng Bình Định, cũng như đồng ở các tỉnh miền Trung gồm có "điền" và "thổ". Điền trồng lúa. Thổ trồng hoa màu phụ và cây công nghiệp. Điền chia ra ruộng rộc và ruộng gò:

Ra đi cha mẹ dặn dò,
Ruộng rộc thời cấy, ruộng gò thời gieo.
(Ca dao)

Còn hoa màu phụ thì nhiều nhất là dừa, dâu, đậu, mía, khoai lang, khoai mì..v.v..

Đồng Bình Định tuy không phì nhiêu bằng đồng miền Nam, nhưng đứng vào bậc nhất, bậc nhì ở trung Việt. Lại thêm nông dân Bình Định áp dụng triệt để những yếu tố cần thiết trong nghề làm ruộng là nước, cần, phân, giống. Nên từ trước đến nay, người Bình Định ít khi bị đói, và trong chín năm kháng chiến chống Pháp đồng Bình Định chẳng những nuôi sống 800 ngàn dân của tỉnh mà còn tiếp tế cho các tỉnh khác trong liên khu 5.

Nếu có được đầy đủ dụng cụ tân chế, và vốn liếng dồi dào, với cánh đồng tỉnh nhà, nhân dân Bình Định có thể sống một đời sống phú túc phong lưu.

Nên có thơ rằng:

Rộc tiếp gò, soi, đồng tiếp đồng.
Trời mây chung bóng biếc mênh mông,
Vàng cao nghĩa đất hai mùa lúa,
Bạc chứa nguồn tin sáu ngã sông.
Thêm lợi vì dân dừa đỗ mía,
Chung tình với nước giống phân công.
Cuộc đời nay nắng mai mưa mặc
Nuôi tám mươi muôn vững một lòng.
Bờ biển và cửa biển

Bờ biển Bình Định chạy từ cửa Kim Bồng vài đến chân núi Cù Mông dài trên 100 cây số. Địa hình bờ bãi khi bằng, khi dốc, khi lõm vào thành cửa, thành vũng, khi lồi ra thành mũi thành ghề, khi thì cát trắng tắm nước xanh, khi thì non cao dợn sóng bạc… Đi ngoài biển trông vào thật vô cùng thích thú.

Cửa Kim Bồng

Nằm dưới chân dãy Bình Đê, cửa Kim Bồng ăn thông vào cửa Tân Quan.

Cửa hẹp nhưng sâu nên thuyền trọng tải vào ra Tân Quan được dễ dàng.

Trước kia, nhà vua của các triều đại đều có đặt chức Tấn thủ thừa biện để canh phòng và thu thuế ghe thuyền chở hàng hóa ra vào. Vì vậy nên gọi là hải tấn (Kim Bồng hải tấn). Năm Thành Thái thứ 11 (1899) chức Tấn thủ thừa biện bãi bỏ, người Pháp đặt nha Thương Chánh thay vào.

Từ Kim Bồng chạy vào, bờ biển thấp và toàn cát chừng bảy cây số thì đến cửa An Giũ.

Cửa An Giũ

Cũng là một hải tấn.

Trước cửa có một dải cát chạy dài từ Ca Công, Thạnh Xuân đến Diêu Quan, dài đến bảy cây số, tục gọi là "Con Rồng động đỏ". Bãi cát này khi mở khi lấp không thường, làm trở ngại cho ghe thuyền không ít.

Ở phía hữu cửa biển, tại thôn Thạnh Xuân, có đền thờ ba vị thần là Tứ Dương Thành Phủ Quân, Đà Dương Phủ Quân và Thế Tử Nhạc Phủ Quân, gọi là Tam Thần Từ. Sự tích ba vị thần không ai biết rõ, chỉ nghe truyền rằng là ba vị trung thần thủ tiết, rất linh hiển. Cửa biển An Giũ thường bị cát bồi lấp. Tục tuyền rằng, hễ đến đền cầu đảo thì cửa mở rộng, ghe thuyền ra vào dễ dàng. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đến kỳ vận tải hàng cửa biển bị lấp, quan địa phương đến đền cầu khẩn thì ngay bữa hôm sau liền thấy mở ra một cửa mới rộng và sâu, nhưng được vài ngày, sau khi vận tải xong thì cửa biển đóng trở lại như cũ. Việc ấy tâu lên, nhà vua chuẩn bị cho sắm lễ cúng tế. Từ ấy năm nào cũng chiếu lệ thi hành. Những khi trời nắng hạn, cầu đảo cũng được ứng nghiệm, dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị, nhà vua nhiều lần phong tặng. (Trong Đại Nam Nhất Thống Chí có chép rõ).

Đó là một đặc điểm của cửa biển An Giũ.

Cửa An Giũ cũng là chiến trường của nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn với nhiều trận quyết liệt.

Năm Quí Sửu (1793) Nguyễn Ánh tự đốc chu sư tấn công thành Quy Nhơn, sai Nguyễn Văn Nhơn chia quân kéo đánh đồn Lại Giang. Tướng Tây Sơn là đô đốc Nguyễn Công Thái đánh không lại phải đầu hàng. Qua năm sau (Giáp Dần 1794), tướng Nguyễn là Nguyễn Văn Trương lại kéo quân đến đánh úp quân Tây Sơn một lần nữa ở cửa An Giũ. Quân Tây Sơn bị thua. Quân nhà Nguyễn đoạt được hơn mười chiếc thuyền lương thực. Tuy thắng nhưng lần trước cũng như lần sau, quân nhà Nguyễn đều bị quân Tây Sơn đánh đuổi về Gia Định.

Qua khỏi cửa An Giũ, từ Diêu Quan (Hoài Nhơn) vào đến Phú Thứ (Phù Mỹ), núi Bích Kê chạy sát mé biển, nên nhiều nơi:

Chờn vờn mặt nước cây toan lội,
Lấp lững chân non sóng muốn trèo.

Cạnh vùng Phú Thứ (về phía nam) có cửa Hà Ra.

Cửa Hà Ra

Xưa kia cũng là một hải tấn quan trọng, có chức Tấn thủ tuần phòng, sách gọi là Hà La hải tấn.

Cửa biển ăn thông vào đầm Trà Ô ở phía Nam với một con nước dài đến bốn cây số. Ngày xưa cửa biển mở rộng, ghe thuyền vào ra đầm Trà Ô được dễ dàng như các cửa lớn. Nhưng hiện nay đã bị cát bồi, chỉ có mùa mưa lụt, nước chảy mạnh mới lưu thông.

Ở ngoài khơi ngay trước mặt Hà Ra có một hòn đảo nhỏ hình giống con rùa bò, tục gọi là hòn Qui hay hòn Khô. Đó là một nút ruồi trang điểm cho "khuôn mặt" Hà Ra thêm duyên vậy.

Từ Hà Ra vào đến Vĩnh Lợi (Phù Cát), trên 28 cây số, trừ hòn Vi Rồng ở Tân Phụng và hòn Lang ở Vĩnh Lợi ra, tất cả đều là cát trắng viền biển xanh, mịn màng bằng phẳng. Cổ nhân gọi là: Bạch Sa Động.

Truyền rằng:

Động cát này xưa kia là một rừng cây. Từ Tân Phụng trở vào cây cối sầm uất. Hòn Vi Rồng và hòn Lang khuất trong đám cổ thụ bóng cả thân cao. Có một thầy địa lý người Trung Hoa đến xem cuộc đất, cho biết rằng không kíp thì chầy, thế nào rừng cũng bị cát bồi lấp. Người địa phương lo sợ, cầu đảo hàng năm.

Nhưng rồi vẫn không tránh khỏi tai nạn: Trời bỗng nổi bão lụt to lớn phi thường. Luôn mấy ngày đêm mưa không ngớt, gió không ngớt. Phần nước trên núi chảy xuống, phần nước dưới biển dâng lên. Nhà cửa ngập trôi, cây cối ngập trôi, vật chết, người chết… Đến khi trời xửng, nước dựt, thì dãy rừng xanh đã biến thành bãi cát trắng. Hòn Vi Rồng và hòn Lang đứng trơ trọi giữa trời.

Khoảng giữa động, tại Xuân Phương có một mũi đá nhô ra biển, tục gọi là Gành Mét, tên chữ là Độc Ky
(Gành Một).

Từ Gành Mét đến Hòn Lang có hai vũng ôm lấy bờ biển. Một vũng, ở phía bắc từ Gành Một đến hòn Vi Rồng, gọi là vũng Mới, trên vũng có hải đăng. Một vũng ở phía nam từ Vi Rồng đến hòn Lang, gọi là vũng Bầu. Xưa kia gọi hai vũng này là Phòng Mãi hải tấn, đặt chức Tấn thủ để tuần phòng thủ sở ở phường mới (Tên phường Mới do tiếng Phòng mãi mà ra, hay Phòng mãi do Phường mới mà ra, chưa ai rõ). Chức này bãi bỏ dưới triều Tự Đức một lần cùng Hà Ra.

Qua khỏi vũng Bầu đến cửa Đề Gi.

Cửa Đề Gi

Thông với đầm Nước Ngọt ở phía Tây. Hòn Lang sơn làm cánh cửa phía bắc, mũi đất Đề Gi làm cánh phía nam.

Đây cũng là một hải tấn quan trọng, có Thương Chánh coi việc thu thuế ghe thuyền ra vào.

Vùng Đề Gi nhờ có cửa ở phía Đông và chợ ở phía Tây, tục gọi là Chợ Gành. Cũng như cửa An Giũ, cửa Đề Gi còn ghi một vết nhục cho nhà Tây Sơn vào cuối đời Cảnh Thịnh: Năm Canh Thân (1800), Phó thống chế Tây Sơn tên là Thụy đem 150 thuyền lương từ Bắc Hà vào Quy Nhơn. Thuyền vào đậu ở cửa Đề Gi.
Lúc bấy giờ quân nhà Nguyễn đã chiếm đóng thành Quy Nhơn, nhưng đương bị Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng vây đánh kịch liệt. Nguyễn Ánh được tin đem thủy binh ra cứu. Nhưng không vào được cửa Thị Nại. Tướng nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Trương, nhân đi tuần ngoài biển, được tin thuyền lương của Tây Sơn vừa vào đậu ở cửa Đề Gi, liền kéo quân đánh úp. Không kịp day trở, Phó thống chế Thụy thua chạy, bỏ cả số lương có trên 30 ngàn vuông thóc.

Cửa Đề Gi, cũng như cửa Kim Bồng, hẹp và không được sâu nên tàu lớn không vào được.

Ngay trước cửa, cách chừng hai hải lý, có mấy hòn đảo nhỏ tục gọi là hòn Trâu, trong các bản đồ ghi là "He aux Buffles". Không biết đó có phải là nhóm đảo "Trâu nằm" mà vị tiền bối Phù Mỹ là ông Kiều đã đề vịnh chăng? Vịnh rằng:

Trâu ai cắc cớ chẳng ăn đồng,
Lúc ngúc ra nằm giữa biển đông.
Sóng bạc lô nhô xao trước mặt,
Rong xanh tấp tểnh đóng bên hông.
Cán roi Nịnh Thích không sờn dạ,
Ngọn lửa Điền Đan chẳng cháy lòng.
Phải gặp ông Y mà hỏi thử:
Nội sằn lúc trước có cày không?

Ông Kiều còn có bài ca kể các nơi có tiếng ở dọc theo bờ biển từ Phú Xuân vào đến Gia Định. Nhân tiện xin trích một đoạn từ Tam Quan tới Đề Gi để bổ khuyết những nơi mà trên đây không đem vào vì thấy không cần thiết:

Gát ra thấy mũi Sa Hoàng,
Kìa kìa lố thấy Tam Quan nhiều dừa.
Anh em thề thốt buổi xưa,
Nam thanh nữ tú ắt vừa con ngươi.
Gặp nhau chưa nói đã cười,
Bước vô Từ Phú là nơi nhiều ghè.(1)
Dông trên suối biếc đẹp ghê,
Muốn cần nước củi ta về Lộ Giao. (2)
Ngó ra thấy lò Khô Khao (3)
Ta sẽ đem vào cửa lấp Hà Ra.
Bàu Bàn Gành Mét bao xa, (4)
Vi Rồng Phường Mới xinh đà quá xinh.
Vũng Bầu Nước Ngọt lố gành,
Vũng Tô Suối Bún rất tình nên vui… (5)

(1) Từ Phú ở gần cửa An Giũ
(2) Lộ Giao ở phía trong đèo Diêu Quan. Đã nói ở mục Núi
(3) Khô Khao tức là hòn Khô (hòn Rùa) ở trước Hà Ra
(4) Bàu Bàn tức đầm Trà Ô-Xem mục "đầm ao" ở sau
(5) Xem mục cổ tích "Đá Vọng Phu"

Vũng Tô Suối Bún ở phía trong Đề Gi.

Từ Đề Gi trở vào đến Cách Thử, trong khoảng trên vài chục cây số, bờ biển thấp và cũng đầy vun cát trắng. Duy tại vùng Chánh Oai Thanh Hy và vùng Tân Lý, núi Bà chạy lài ra sát biển, tạo thành những gành đá gồ ghề. Giữa những gành ấy, ăn sâu vào mấy vũng nhỏ như: vũng Tô, vũng Bắc, vũng Nồm. Những vũng này không có ghe thuyền đậu, chỉ có lợi cho việc chài lưới.

Qua khỏi Tân Lý vào đến Cách Thử thì bãi cát chạy dài theo biển.

Cách Thử

Cũng gọi là Kẻ Thử, xưa kia là một hải tấn, mệnh danh là Nha Phiên hải tấn, lưu thông cùng đầm Thị Nại ở phía nam.

Năm Quí Sửu (1793) quân Nguyễn Ánh đã vào cửa Cách Thử rồi lên đánh đồn Càn Dương ở Núi Bà. Nhưng sau khi nhà Tây Sơn bị diệt thì cửa biển bị lấp.

Tại sao gọi là Cách Thử?

Truyền rằng thời xưa nơi cửa ghe thuyền ra vào tấp nập. Việc buôn bán rất thạnh. Chẳng những chỉ có thương gia bốn phương giao dịch với nhau, mà người cõi âm cũng đến mua hàng hóa. Người trần không biết, bán hàng lấy tiền, nhưng tiền thâu được khi đem về nhà mở ra đếm lại, thì thấy toàn giấy tiền vàng bạc. Để khỏi bị thiệt thòi người ta mới bày ra cách thử tiền: Lấy một chậu nước bỏ tiền vào, đồng nào chìm tức là tiền thiệt, đồng nào nổi là tiền giấy. Nhân cách thử tiền ấy mà cửa biển lấy tên là Cách Thử.

Còn Kẻ Thử tức là vùng đất của kẻ thử tiền vậy.

Khi cửa Cách Thử chưa bị lấp thì núi Triều Châu là một vùng hải đảo. Sau khi cửa bị lấp rồi thì Triều Châu trở thành một bán đảo, chạy từ Cách Thử đến Phương Mai. (Đã nói rõ ở mục địa lý phía trước)

Bờ biển chạy dưới chân bán đảo, khi thì cát trắng mênh mông, khi thì gành cao mũi nhọn. Từ Cách Thử vào đến Hưng Lương, dài bảy, tám cây số, bờ biển thấp và cát vun từ mé cho tới đầu non. Đi ngoài khơi trông vào trắng phau như tuyết. Khoảng cát này gọi là Trường Châu hay Trường Chử, tức Bãi Dài.

Từ Hưng Lương trở vào, thỉnh thoảng có đôi ngọn núi đá mọc lên sát mé biển, thành bờ biển có nhiều chỗ nổi cao, gập ghềnh khúc khuỷu. Từ Dốc Ngựa vào đến Phương Mai thì bờ biển toàn là gành đá, thỉnh thoảng mới có đôi dải cát viền chân non.

Từ Bắc vào Nam, dọc theo bán đảo Triều Châu có nhiều vũng như vũng Nồm, vũng Bấc, vũng San hô.
Vũng Nồm, vũng Bấc có nhiều cá. Còn vũng San hô thì có nhiều san hô. Trên bờ vũng có một làng cũng lấy tên là San hô. Dân cư thường lấy san hô ở vũng bán cho thợ hầm vôi.

Ngoài khơi rải rác một ít cù lao nhỏ. Được người hàng hải để ý là hòn Cỏ và hòn Cân ở trước mặt núi Hưng Lương, cách chừng hơn một hải lý. Và tại vũng San hô có hòn Khô làm bình phong che cho làng San hô bớt gió.

Ở Bình Định, mùa hè, gió Nam thổi rất mạnh, nhiều khi thổi trốc cả cây cối, nhà cửa. Vùng biển dọc theo triền phía đông bán đảo Triều Châu, ngọn gió thổi lại còn mạnh gấp bội nhất là tại Eo Vược. Người ta gọi là Nam Lò. Ghe thuyền đi qua gặp lúc Nam Lò thổi mạnh thì khó tránh khỏi tai nạn. Cho người đi biển có câu:

Cha chết không lo,
Hỏi thăm Nam Lò thổi dịu, hay săng.

Qua khỏi vũng San hô thì đến mũi Mác tức mũi Yến, một mũi đá nhọn hoắc đâm thẳng vào Nam. Mũi Mác là điểm cuối của dãy Triều Châu. Từ mũi Mác chạy lên tây, qua hòn Mai, đến Gành Hổ tức Hổ Ky, thì bờ biển là chân núi, sóng vỗ gành cao, bãi cát chỉ bày ra khi nước xuống.

Hổ Ky trở mũi lên thành phố Quy Nhơn. Lưỡi cát Quy Nhơn lại chạy dài xuống Phương Mai. Đầu lưỡi dài và thỏn trông như cổ con rùa nằm sát đất và ngó nghiêng vào nam, tục gọi là mũi Cổ Rùa, sách gọi là qui Cảnh Chủy. Mũi Cổ Rùa và gành Hổ giao lại với nhau như hai chiếc răng nanh, làm hai cánh cửa cho đầm Thị Nại. Theo các thầy địa lý, cuộc đất có hình thế "Thủy khẩu giao nha" như thế rất tốt.
Từ Cách Thử đến Phương Mai, bài ca của ông Kiều tiếp rằng:

Thương cha nhớ mẹ ngùi ngùi,
Hòn núi Cách Thử có người bồng con.
Nhớ người hẹn nước thề non,
Lòng ghi dạ tạc bồng con để đời.
Vũng Nồm vũng Bấc xem chơi,
Trong vịnh ngoài vời thấy hòn Cỏ, Cân.
Nam lò Eo Vược rần rần,
San hô, mũi Mác ăn lần hòn Mai…
Cửa Giã có hòn án ngoài…

Cửa Giã nói trong bài ca là cửa Thị Nại.

Cửa Thị Nại

Cửa Thị Nại thường gọi là cửa Quy Nhơn, là một cửa biển quan trọng nhất của Bình Định.

Từ đời Chiêm Thành cho đến đời Tây Sơn, đời nhà Nguyễn, Thị Nại luôn luôn có quân đóng để phòng ngự. Ở hai bên cửa có đồn lũy kiên cố, hiện còn sót lại đôi dấu tích ở Phương Mai.

Thị Nại hiện nay là một thương cảng, xưa kia là một hải tấn, có quan Tấn thủ coi giữ. Nơi quan Tấn thủ đóng lỵ sở ngày trước, nay gọi là xóm Tấn và chiếc cầu nơi mũi Cổ Rùa gọi là Cầu Tấn. Cầu này có từ đời Chiêm Thành, xây bằng đá, nên sử chép là Thạch Kiều, thời Pháp được sửa lại, đúc bằng xi măng cốt sắt.

Đó là lai lịch xóm Tấn và cầu Tấn.

- Còn vì sao gọi là cửa Giã?

- Giã là làm cá. Trước kia nơi lưỡi cát Quy Nhơn chỉ có người chài lưới ở để làm nghề mà thôi, và cửa Quy Nhơn, thời bình, chỉ có ghe thuyền đánh cá ra vào hàng ngày, cho nên mới gọi là cửa Giã.

- Còn tên Thị Nại do đâu mà ra?

- Các nhà khảo cổ Tây phương cho biết rằng do tiếng Chiêm Thành Thi Lị Bị Nại sau gọi tắt là Thị Nại.

Tên Thị Nại chẳng những dùng để chỉ cửa biển, mà còn dùng gọi luôn đầm nước ở phía Bắc, vùng biển ở phía Nam và lưỡi cát chạy ở giữa đầm và biển. Sau khi đặt nền đô hộ lên đất nước Việt Nam, Pháp mới đổi tên đất và tên biển ra Quy Nhơn. Tiếng Thị Nại từ ấy chỉ còn dùng để gọi tên đầm.

Quy Nhơn

Bờ biển Quy Nhơn hình lưỡi liềm, mà mũi là Cầu Tấn và cán là Gành Ráng. Lưỡi liềm "bằng bạc" sáng ánh, dài trên năm cây số, luôn được sóng biển cọ mài cho thêm bén thêm xinh. Người địa phương có câu:

Gió Cầu Tấn trưa chiều thổi mát,
Bãi Quy Nhơn mịn cát dễ đi…
Phương Mai Gành Ráng tương tri,
Ngâm câu "thủy tú sơn kỳ…" thảnh thơi…

Qua khỏi 5 cây số "cát mịn dễ đi", đến Gành Ráng thì dãy Nam Sơn chạy xuống sát biển, nên bờ biển nổi cao. Nơi đây gò đống nổi cao, hang hốc hê hủng, gành cao sóng vỗ, khí thế thật là hùng hiểm, khôi kỳ.

Gành Ráng tên chữ là Nhạn Châu, ở phía Tây Nam, cùng với núi Phương Mai ở phía đông bắc, làm hai cánh cửa ngoài che cửa biển Quy Nhơn.

Qua khỏi Gành Ráng đến Quy Hòa, thì núi lại rút lên phía tây để tiếp tới núi Cù Mông, nên bỏ trống một vùng đất bằng rộng độ vài trăm mẫu. Do đó bờ biển hạ thấp xuống, và chạy độ vài ba cây số thì đến chân núi Cù Mông chạy sát biển, sóng bạc gành đen…

Đến đây là cuối tỉnh Bình Định.

Nhưng cách Cù Mông chừng hai hải lý về phía đông nam và cách thành phố Quy Nhơn chừng ba hải lý về phía nam, có một cù lao to lớn, tên chữ là Thanh Châu Dự, tục gọi là Cù Lao Xanh. Trên đảo có đài hải đăng.

Từ Gia Long trở về trước, đảo này thuộc về Phú Yên. Đến triều Minh Mạng mới cải thuộc Bình Định.

Đó là bức bình phong che gió cho cửa Quy Nhơn.

Trong bài ca của ông Kiều, có câu:

Cửa giã có hòn án ngoài,
Các lái chạy ngoài gọi hòn Lao Xanh.

Từ trước đến nay cửa Thị Nại tức cửa Quy Nhơn, đã chứng kiến bao cuộc hưng vong và các trận đánh mà sự kiện vẫn còn ghi trong sử sách.

Đời nhà Lý (1010-1225) ở nước Chiêm Thành, các bộ lạc làm phản. Vua Chiêm sai sứ ra cầu cứu vua nhà Lý. Lý Thánh Tông (1054-1072) sai người con thứ tám là Oai Minh Vương đem thủy binh vào giúp. Oai Minh Vương vào cửa Thị Nại, đóng binh dưới núi Phương Mai, được vua Chiêm Thành ngự giá nghênh kiến. Các bộ lạc nghe đức của Oai Minh Vương, rủ nhau kéo đến quân môn, lạy lục xin tuân theo mệnh vua Chiêm Thành, không dám đem lòng phản trắc nữa. Sứ mệnh xong, Oai Minh Vương kéo quân về nước. Vua Chiêm Thành nhớ công đức lập đền tại Phương Mai phụng tự.

Đời nhà Trần, năm Giáp Thân (1284), vua nhà Nguyên sai con là Thoát Hoan cùng các tướng Toa Đô và Ô Mã Nhi dẫn 50 vạn quân, giả tiếng, mượn đường Việt Nam, sang đánh Chiêm Thành. Thoát Hoan chia binh làm hai đạo. Một đạo đi đường bộ qua ải Nam Quan. Một đạo đi đường thủy kéo thẳng vào cửa Thị Nại, do Toa Đô chỉ huy. Quân Chiêm Thành để cho quân Toa Đô vào cửa, nhưng giữ các đường hiểm yếu không cho tiến, Toa Đô đánh mãi không được, phải bỏ Thị Nại theo đường bộ ra Nghệ An. Đến đây bị quân ta đánh phải chạy ra bắc, và sau mấy trận kịch chiến, Toa Đô bị quân ta giết chết tại trận Tây Kết.
Năm Bình Thìn (1376), vua Trần Duệ Tông cử 12 vạn quân vào đánh Chiêm Thành. Tháng giêng năm Đinh Tỵ (1377) tiến vào cửa Thị Nại. Quân Chiêm Thành không chống cự. Quân Trần Duệ Tông chiếm cứ đồn Thạch Kiều và động Kỳ Mang (tức vùng Quy Hòa, Gành Ráng và động cát ở chân núi Xuân Quang). Đắc thắng quân nhà Trần kéo lên đánh thành Đồ Bàn. Chế Bồng Nga lập mưu và đánh thắng tiêu diệt gần hết tướng sỹ.

Sang đời nhà Hồ, năm Quí Mùi (1403), quân Hồ Hán Thương lại vào Thị Nại để đánh Đồ Bàn một lần nữa, nhưng hao bao nhiêu xương máu rốt cuộc không thắng.

Nhưng đến đời Lê (1428-1527), vận mệnh nước Chiêm Thành lần lần xuống… Năm Canh Thìn (1470) là năm Hồng Đức nguyên niên, vua Lê Thánh Tông cử hơn 20 vạn tinh binh vào đánh Thị Nại. Quân Chiêm Thành chống giữ kịch liệt, nhưng khí thế quân vua Lê quá mạnh, vua Chiêm Thành là Trà Toàn phải bỏ Thị Nại, rút quân về giữ thành Đồ Bàn. Từ thời Lê Thánh Tông đến thời chúa Nguyễn Phúc Thuần, gần 300 năm (1470-1744), biển Thị Nại được gió yên sóng lặng, chất nước đã trở nên trong. Đến cuối thế kỷ 19 trở về sau, đầm Thị Nại chứng kiến các trận đánh giữa hai nhà Nguyễn. Trận đánh đầu tiên của hai họ Nguyễn trên biển Thị Nại là trận năm Nhâm Tí (1792). Trận này có tướng Pháp là Dayot và Vannier, tục gọi là Nguyễn Văn Phấn, Nguyễn Văn Chấn giúp sức. Chỉ huy thủy quân của Tây Sơn là đô đốc Nguyễn Thành. Lúc bấy giờ gió nam thổi mạnh. Quân Nguyễn Ánh dùng hỏa công đốt cháy thủy trại Tây Sơn. Đô đốc Thành chống giữ không nổi, phải chạy lên thành Quy Nhơn (tức thành Đồ Bàn cũ). Nguyễn Ánh đổ bộ, song liền đó bị đại binh ở thành Quy Nhơn kéo xuống đánh lui.

Qua năm sau, thủy quân Nguyễn Ánh lại ra đánh Thị Nại lần thứ hai. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai thái tử là Nguyễn Bảo cầm quân chống giữ. Nguyễn Bảo bị thua, thành Quy Nhơn bị khổn. Vua Thái Đức phải cầu cứu Phú Xuân. Quân cứu viện vừa đến, Nguyễn Ánh liệu không chống nổi liền rút binh về. Quân Tây Sơn trọn thắng, nhưng thắng ở mặt ngoài mà nội bộ trở thành mâu thuẫn: Cháu giết bác để cướp đất đai. Nhà Tây Sơn lần xuống.

Năm Kỷ Vị (1799) Nguyễn Ánh cử đại binh ra đánh Quy Nhơn. Thủy quân vào cửa Thị Nại vào giữa mùa hạ, đồng thời lục quân từ Diên Khánh kéo ra, bị đánh hai mặt, quân Tây Sơn đại bại. Thành Quy Nhơn và thành Thị Nại vào tay Nguyễn Ánh.

Nhưng qua năm sau, tức năm Canh Thân, quân Phú Xuân do Trần Quang Diệu chỉ huy vào đánh lấy Thị Nại giao cho Võ Văn Dũng trấn giữ, rồi kéo quân lên vây đánh thành Quy Nhơn (lúc bấy giờ Nguyễn Ánh đã đổi tên là Bình Định). Nguyễn Ánh được tin Quy Nhơn bị khổn, bèn cử đại binh ra cứu viện. Võ Văn Dũng dùng ba chiếc đại thuyền định quốc và hơn trăm chiếc thuyền chặn ngang cửa biển, lại sai đắp đồn bảo ở Gành Ráng và Phương Mai, đặt súng lớn bắn xuống. Quân Nguyễn Ánh không thể tiến phải rút lui.

Qua năm sau, tức năm Tân Dậu (1801) đợi mùa gió nam thổi, Nguyễn Ánh khiến chế tạo chiến cụ hỏa công, rồi sai Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy, Nguyễn Văn Trương đem đại binh ra đánh Thị Nại. Mặc dù cố gắng tả xông hữu đục, hải thuyền của nhà Nguyễn vẫn không thể vào nổi. Biết không thể dùng sức, tướng nhà Nguyễn bèn dùng mưu. Nguyễn Văn Trương cho gián điệp trà trộn vào quân Tây Sơn lấy khẩu hiệu, rồi đang đêm cởi thuyền nhỏ lẻn vào Hổ Ky, nổi lửa đốt thủy trại. Võ Văn Dũng đương chỉ huy trận tiền thấy lửa cháy ở hậu cứ, thất kinh chia binh trở vào cứu. Võ Di Nguy thừa cơ cởi hải đạo thuyền lướt vào lòng địch. Súng trên đồn bắn xuống, Võ Di Nguy bị trúng đạn chết. Lê Văn Duyệt đốc binh tiếp theo, liều chết vượt khỏi tầm súng. Quân Tây Sơn vẫn giữ đồn bảo cự chiến. Tiếng súng vang trời. Thấy thuyền nhà Nguyễn xông vào, thuyền Tây Sơn chận đánh. Khi hai bên giáp chiến, Lê Văn Duyệt thừa ngọn gió nam thổi mạnh nổi hỏa công. Lửa cháy rần rật và theo gió tạt vào đoàn thuyền Tây Sơn. Gió thổi càng mạnh, lửa cất càng cao. Ánh sáng rực cả mặt thuyền, ngất cả tầng mây và tiếng súng nổ tiếng quân hò reo rầm trời dậy đất. Quân nhà Nguyễn bị chết rất nhiều, nhưng thuyền Tây Sơn bị đốt gần hết. Võ Văn Dũng không chống nổi, phải bỏ Thị Nại kéo quân lên hợp cùng Trần Quang Diệu giữ những nơi hiểm yếu khác.

Trận này là trận lớn nhất giữa hai nhà Nguyễn ở trên biển Thị Nại và cũng là trận sau cùng.

Từ ấy quân nhà Nguyễn giữ vững Thị Nại.

Khi Gia Long lên ngôi rồi vẫn đóng thủy trại ở Thị Nại để canh phòng.

Năm Minh Mạng thứ 7 (1826) cho xây lại Thượng Lộc (tức Cẩm Thượng) một thành đất chu vi 48 trượng bốn thước, cao sáu thước, mở một cửa. Phía đông cửa tại Hổ Ky lại xây một kỳ đài và 12 pháo mô. Đồng thời đặt chức Thủ ngự và Hiệp thủ đến coi việc canh phòng. Phủ sở đóng tại Thượng Lộc. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) làm thêm một kho ngói, hàng năm trữ 30 ngàn hộc lúa, để tải đi các nơi.

Năm Tự Đức thứ 18 (1865) đặt sở Hải Phòng tại Thị Nại, phía sau Hổ Ky đắp một lũy dài ba trượng có bốn pháo mô, gọi là lũy Thuyền Úc, tức Vũng Tàu và mộ dài ba trượng có năm pháo mô, gọi là lũy Quỳnh Đế. Việc canh phòng rất nghiêm ngặt.

Nhưng năm Ất Dậu, lấy xong kinh đô Huế, quân Pháp đổ bộ lên Thị Nại, xả súng bắn vào các thành lũy đồn bảo. Quân ta không chống cự nổi phải đầu hàng. Pháp chiếm đóng Thị Nại dùng làm căn cứ quân sự đến khi đã dẹp yên phong trào Cần Vương đặt vững nền đô hộ lên đất nước Việt Nam. Chánh quyền thực dân dùng Thị Nại làm lỵ sở và đổi tên là Quy Nhơn, mượn tên cũ thời vua Lê chúa Nguyễn để ngụ ý rằng nơi đây là nơi quy tụ nhân nghĩa, chớ không phải nơi bị giặc Tây di đánh cướp như lời các sỹ phu đương thời đã bảo.
Những cơ sở quân sự của ta ở Thị Nại từ khi Pháp làm chủ lãnh thổ đều bỏ hoang. Nhưng mãi đến triều Thành Thái (1889-1907) mới triệt hạ.

Như thế, cửa biển Quy Nhơn, tức Thị Nại ngày nay là một thương cảng phồn thịnh, nhưng xưa kia là vũng chiến trường. Cho nên thời Pháp thuộc, Trường Xuyên có bài thơ hoài cổ rằng:

Thị Nại xưa kia vũng chiến trường,
Nổi chìm thế sự mấy triều Vương…
Non mây nghi ngút nơi binh dữ,
Biển ráng chưa tan bọt máu hường.
Nhạn lãnh sóng vờn gương đế bá
Phương Mai rừng đắp vết tang thương.
Bùi ngùi ngắm cảnh quay trông lại
Lớp lớp xe ai rộn phố phường!

(Vùng núi tại Gành Ráng tên là Nhạn Châu lãnh. Tại nơi gành phía đông, thời Pháp thuộc có xây biệt thự để vua Bảo Đại nghỉ mát, tục gọi là lầu Bảo Đại. Lầu đã bị phá hủy năm 1949. Và gọi là Gành Ráng không phải là Ráng trời. Người đi biển có bốn tiếng để lái thuyền: Cay: cho thuyền từ phải qua trái; Biết: cho thuyền từ trái qua phải; Nhượng: xoay mũi thuyền theo đầu gió; Ráng: đổ gió trong buồm ra, xoay mũi theo cuối chiều gió. Thuyền hễ qua Gành này thì phải đổ gió nên gọi là Gành Ráng...)

Bờ biển Bình Định qua khỏi Qui Hòa là dừng, để cho Cù Mông chạy tiếp vào Phú Yên với ghềnh với vũng… khiến đất tuy chia ranh giới hẳn hoi, nhưng tình hình đất nước từ bắc vào nam không bao giờ gián đoạn.

Đầm ao

Bình Định có ba đầm lớn, kể từ Bắc vào Nam:

- Đầm Trà Ô

- Đầm Đạm Thủy

- Đầm Thị Nại

Cả ba đều nằm dọc theo bờ biển, nước xà hai.

Đầm Trà Ô

Tục gọi là Bàu Bàn, nằm trong cánh đồng Phù Mỹ, cách biển chừng ba cây số về phía tây. Ba mặt bắc tây nam đều là núi, hợp thành một tòa "nhà chữ môn" vĩ đại, mà đầm Trà Ô là khoảnh hồ ở trước sân.

Đầm rộng chừng 13, 14 cây số vuông. Bề ngang từ tây xuống đông, chỗ hẹp trên dưới một cây số, chỗ rộng cũng đến ba cây số. Các khe suối ở các núi ở ba mặt đều chảy vào đầm. Có hai con suối được khách phương xa biết tên nhiều nhất là suối Đập Đãng ở Phú Nhiêu chảy ra và suối Đập Khê ở phía tây chảy xuống. Ngày xưa đầm và biển tiếp xúc với nhau luôn luôn nhưng từ khi cửa Hà Ra bị lấp thì chỉ mùa nước lụt mới lưu thông. Nhờ các khe suối và nhờ không ảnh hưởng thủy triều biển cả, nên đầm Trà Ô luôn luôn đầy, nước đầm không mặn lắm.

Trong đầm, gần bờ phía tây, nổi lên một cù lao nhỏ, cây cối sum sê. Truyền rằng trong rừng cây có quỷ thần ở nên người địa phương rất tôn kính, không ai dám xúc phạm.

Phía nam cù lao nước đầm sâu, làm chỗ nuôi cá. Phía bắc nước cạn, làm nghề trúc đăng. Từ trước đến nay, hai thôn Châu Giang và Trúc Võng trưng thuế đánh cá trong đầm.

Cá tôm trong đầm rất nhiều. Có tiếng nhất là chính và tép. Chình có chình mun và chình bông, thịt ngon và bổ. Còn tép thì bán tươi không hết phải phơi khô để chở đi bán ở các nơi xa. Ca dao có câu:

Rủ nhau mua tép Trà Ô,
Sẵn bờ cát trắng phơi khô đem về.

Phía đông Trà Ô, có hai đầm nhỏ. Một nằm ở hướng bắc tại An Bình, gọi là Bình Hồ Hải Đông Đàm, gọi tắt là Bình Hồ. Một ở phía nam tại Thanh Thủy, gọi là Thúy Ky Đàm.

Bình Hồ hình giống bàn tay trái nắm và chỉ vào nam, chung quanh có một dòng suối bao bọc, nhưng nước đàm và nước suối thường không liên lạc với nhau.Trông thật ngộ nghĩnh.

Còn Thúy Ky thì hình thoi, đầu phía nam đón nước suối từ núi Lạc Phụng chảy ra, đầu ngoài lưu thông với Trà Ô do một con nước hẹp và dài chừng một cây số chảy ra bắc dọc theo bờ Trà Ô rồi chuyển lên tây giáp đầm.

Có thể ví đầm Trà Ô là con gà mẹ, và đầm Bình Hồ, đầm Thúy Ky là cặp gà con. Phong cảnh khá ngoạn mục. Phải chi có thêm hai hồ nữa thì chúng ta có thể thực hiện được trong phạm vi nhỏ hẹp, thú "huề Tây Thi du Ngũ Hồ" của Phạm Lãi.

Đầm Đạm Thủy

Tục gọi là đầm nước ngọt, nằm một nửa ở Phù Mỹ, một nửa ở Phù Cát, có hình chữ nhật cạnh hơi đều. Bề ngang từ tây xuống đông trên dưới ba cây số. Bề dài từ bắc vào nam chừng sáu cây số.

Núi Lạc Phụng của Phù Mỹ làm cánh cửa phía bắc. Núi Bô Chinh tức núi Bà của Phù Cát làm cánh phía nam. Tây là lưu vực sông La Tinh và các con sông nhỏ. Phía đông là động Bạch Sa từ Tân Phụng đến Vĩnh Lợi.

Đầm đón nước sông La Tinh và các khe suối ở Lạc Phụng Bô Chinh chảy vào, rồi chảy ra biển qua cửa Đề Gi.

Gọi là đầm nước ngọt, nhưng nước đầm không được như vậy. Bằng chứng cụ thể là ở quanh đầm, ba mặt bắc tây nam có bảy thôn lấy nước đầm làm muối, kể từ nam ra bắc là: Thạch An, Đức Phổ, An Xuyên, An Hoan, Hưng Lạc và Xuân Cảnh. Danh thực thật khác nhau xa. Nhưng chẳng phải riêng gì đầm mới có sự trái ngược. Ở Hoài Nhơn có con suối chạy từ Phụng Du xuống sông Tam Quan. Trên suối, cách Q.L số 1 chừng 300 thước về phía tây có một cái cầu. Nước dưới cầu vẫn là nước ngọt. Nhưng cầu lại mang tên là cầu nước mặn. Dựa vào chỗ danh không đi đôi với thực, nên bạn gái thường hát đố bạn trai:

Tiếng đồn chàng hay chữ,
Tài ngang tú cử,
Lại đây em hỏi thử đôi câu:
Ngọt ngay nước chảy dưới cầu,
Gọi "cầu nước mặn" cớ bởi đâu hỡi chàng?
Lâm thế bí, bên trai bèn mượn đầm nước ngọt mà gỡ:
Thật thà là thói hồng nhan,
Ăn xuôi nói ngược thá gian lạ gì!
Mặn chằng nước vũng Đề Gi,
Gọi đầm nước ngọt lẽ gì hỡi em?

Chàng không đáp được, nàng cũng không đáp được, thành huề cả làng.

Có người cho biết rằng:

Xưa kia nước biển lên đến vùng Phụng Du, theo sông Tam Quan những khi thủy triều lớn. Sau cửa sông và lòng sông bị bồi cạn, nước mặn không lên được nữa, lớp đất trên trôi hết muối, không còn ảnh hưởng đến nước nguồn, nhưng nếu đào nơi vùng cầu, sâu xuống chừng vài sải thì có mặn ngay.

Có người lại bảo:

Gần đó có mỏ calcium hay sodium nên nước chịu ảnh hưởng, chớ không phải do nước biển ngày xưa còn đọng ở dưới lớp đất sâu.

Chưa biết bên nào phải, vì chưa ai thí nghiệm.

Còn về đầm nước ngọt thì nghe truyền rằng:

Năm Giáp Ngọ (1774) chúa Nguyễn là Định Vương bị họ Trịnh ở mặt bắc, nhà Tây Sơn ở mặt nam, đánh mạnh, liệu không chống nổi, bèn cùng cháu là Nguyễn Phúc Ánh xuống thuyền chạy vào Gia Định. Vội vã không kịp trữ nước uống. Nửa đường Định Vương cùng đoàn tùy tùng đều bị khát. Thuyền ghé vào động Bạch Sa, nhưng tư bề đều nước mặn. Vào xóm sợ quân của Tây Sơn bắt gặp, Nguyễn Ánh bèn ngửa mặt lên trời khấn: "Nếu Hoàng Thiên chưa dứt nhà Nguyễn thì xin ban cho nước ngọt". Đoạn truyền đào cát thành lỗ: ai nấy đều hết sức vui mừng vì toàn là nước ngọt (Ở Bình Định thì truyền như thế. Còn ở các nơi thì truyền rằng Nguyễn Ánh được nước ngọt ở giữa biển. Không có gì lạ nếu biết rằng dưới biển vẫn có dòng nước ngọt chảy. Nơi mà Nguyễn Ánh đào giếng hiện còn dấu, tục gọi là giếng Bẹn ở dưới chân Hòn Lang).
Do đó, đầm mới lấy tên là nước ngọt.

Nếu chuyện có thật, thì cũng không có gì là huyền bí linh thiêng cả. Hiện giờ nếu chúng ta đào quanh đầm, cách mé nước chừng vài thước thì vẫn có nước uống được chớ không đợi phải cầu trời xanh trời vàng, mà chẳng phải chỉ bờ đầm nước ngọt mới có đặc điểm ấy. Ở Quy Nhơn, Phương Mai… người chài lưới cũng thường đào giếng nơi bãi cát ở mé biển để lấy nước ngọt.

Đầm nước ngọt có rất nhiều cá, nhiều hơn tất cả các đầm. Cá cũng ngon hơn cá các đầm và ngon nhất là cá làm gỏi. Có người bạn "Dân Thiên trị vì" đã nói:

Đến Đề Gi mà không ăn gỏi thì cũng như đến Thủ Đức mà không ăn nem, vào Nha Trang không ăn hải sản cước cá.

Đó là hương vị đặc biệt của đầm nước ngọt mà Đề Gi đã có công quảng cáo, cho nên đầm nước ngọt cũng gọi là vũng Đề Gi.

Đầm Thị Nại

Tên thật là Hải Hạc Đàm, nhưng tên này đã bị tên Thị Nại làm lu mờ từ khi Pháp đã thay chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ trong học đường và trong các cơ quan hành chính.

Thị Nại là đầm lớn nhất của Bình Định.

Đầm rộng trên ba nghìn mẫu tây. Bề dài từ bắc vào nam có đến 12, 13 cây số. Bề ngang từ tây xuống đông phỏng chừng 3, 4 cây số.

Các chi phái sông Côn và sông Hà Thanh đều chảy xuống đầm chia bờ phía bắc và bờ phía tây thành nhiều cửa, nhiều lạch, nhiều bãi, nhiều doi… Thành phố Quy Nhơn làm bờ phía nam, dãy Triều Châu chạy từ Cách Thử đến Phương Mai làm bờ phía đông, phía ngoài cát vun trắng, phía trong non chồng xanh hô hê hóc hiểm.

Nước đầm chảy ra biển Quy Nhơn, qua hai "răng nanh giao mũi" là Gành Hổ và mũi Cổ Rùa.

Nước đầm theo thủy triều mà lên xuống. Khi lên thì lênh láng, ghe thuyền trọng tải lên xuống dễ dàng, những khi có gió thì sóng dậy như biển. Còn khi nước xuống thì ven bờ đầm bị lộ, bùn lầy lênh láng.

Trong đầm ở phía tây, gần phía Quy Nhơn nổi lên một cụm đá rộng, chừng một vài sào và cao chỉ trên mặt nước chừng một thước khi thủy triều lên. Người ta gọi là tháp Thầy Bói. Không hiểu tại sao gọi thế. Có người bảo rằng:

Xưa kia có một bốc sư bói hay như thần, xây một tòa tháp nơi đó. Ai muốn bói thì phải chịu khó đi thuyền ra. Sau khi bốc sư qua đời, không có người coi ngó bị sóng gió phá hoại.

Lại có người bảo:

Thầy Bói đây không phải là bốc sư, mà là tên của một giống chim ăn cá, lớn bằng bắp tay, lông xanh, ức đỏ, mỏ dài, tương tợ chim sa sả. Các nơi gọi là chim bói cá. Người Bình Định gọi là chim thầy bói. Giống chim này thường tụ nơi khóm đá để bắt mồi. Khóm đá dáng tròn tròn nho nhỏ trông như ngọn tháp, nên gọi là tháp Thầy Bói.

Thuyết sau có lẽ đúng hơn bởi vì ở phía bắc tháp Thầy Bói tại bờ phía tây của Thị Nại, nơi Gành Đăng (cửa sông Làng Sông) có một bãi cát rộng tên là Nhạn Chủ, tức bãi Nhạn. Nhạn là giống chim ăn cá như thầy bói, lớn bằng cổ vế, lông trắng cánh dài, giống này thường tụ tập nơi bãi hàng ngàn hàng vạn để nghỉ ngơi sau khi mồi no cánh mỏi.

Chim thầy bói thì chiếm tháp; chim nhạn thì chiếm bãi; nên có tên tháp Thầy Bói và bãi Nhạn.

Trước kia đi thuyền ngang qua tháp Thầy Bói và bãi Nhạn, chúng ta được thưởng thức cảnh:

Nước biếc dờn thu hồng thúy điểm,
Cát vàng trải nắng phấn ngân phơi.

Cách Bãi Nhạn chừng bảy cây số về phía bắc có một làng từ đời Gia Long đến đời Bảo Đại, dân làng được miễn sưu miễn thuế. Đó là làng Dương Thiện, thuộc huyện Tuy Phước.

Vì sao lại được đặc ân ấy?

Truyền rằng:

Lúc Định Vương Nguyễn Phúc Thuần cùng Nguyễn Phúc Ánh chạy vào Gia Định đến cửa Cách Thử thì dây chèo bỗng đứt. Trời lại tối, gió bấc thổi mạnh, sóng bạc trùng trùng. Thuyền Nguyễn Vương dạt vào cửa rồi trôi thẳng vào đầm Thị Nại (Cửa Cách Thử lúc bấy giờ chưa bị lấp, và thông lưu cùng đầm Thị Nại). Mịt mờ bốn mặt, không biết nên vào núp nơi đâu. Đương lo sợ phân vân thì chợt nghe tiếng "khịt khịt" ở trước mũi thuyền. Nhìn xem thì thấy một con rái cá to lớn nổi lên mặt nước, lưng óng ánh màu ngân. Rái vừa bơi vừa kêu, như mời như rủ. Nguyễn Vương liền truyền bơi thuyền theo. Rái trước thuyền sau. Đi được một chặng đường thì rái nhảy lên bờ, thuyền theo rái mà cập bến.

Nơi thuyền gặp rái thuộc địa phận làng Vinh Quang. Nơi rái đưa thuyền vào bờ thuộc địa phận làng Dương Thiện. Nguyễn Vương cùng đoàn tùy tùng được tiếp đãi trọng hậu.

Sau khi lên ngôi, vua Gia Long nhớ ơn cứu nạn, phong cho rái chức Đại Tướng Quân, lập đền thờ tại lăng Vinh Quang và xuống chiếu miễn sưu thuế đời đời cho toàn dân làng Dương Thiện. Bởi vậy trong thời phong kiến, ai cũng muốn tịch vào Dương Thiện. Và vì được vua phong làm Đại Tướng, Rái trở thành một vật linh thiêng. Người trong vùng đều gọi bằng "Ông" (Ông Rái) và không ai dám sát hại. Nếu bị phá lưới phá đăng để ăn trộm cá, thì đành vái "Ngài đoái thương". Do đó những kẻ không tài không đức mà có chút ít công lao cùng kẻ có quyền thế rồi được lên một địa vụ cao sang, người Bình Định thường gọi là "Tướng Rái".

Ở mé đông bắc đầm, dưới chân dãy Triều Sơn tại thôn Huỳnh Giản (Tuy Phước) có đền thờ bà Cố Hỷ.
Bà Cố Hỷ sống vào thời đại nào không được rõ, có lẽ đã lâu đời lắm nên có nói những việc quá cũ kỹ, người Bình Định thường nói "Từ đời bà Cố Hỷ Cố Lai". Bà nuôi trâu rất nhiều. Sau khi bà qua đời, trâu không người chăn, phá chuồng lên núi, lâu ngày thành trâu hoang. Trước đây trên dãy núi Triều Sơn có nhiều trâu rừng, người ta bảo đó là trâu bà Cố Hỷ.

Đền thờ bà Cố Hỷ do nhân dân sở tại lập, đền ngó xuống sông. Mỗi năm vào tiết xuân thiên, nhân dân trong thôn kết thuyền ở trước đền làm sân khấu, rước bạn hát bội đến hát để cầu bà phù hộ cho biển lặng sóng êm, chài lưới được nhiều cá.

Cuối thôn Huỳnh Giản, về phía nam, sát mé đầm có một rừng rậm, bùn lầy sập sình và mọc toàn cây chại. Trong rừng có nhiều trăn, ít người dám tới. Vùng ở quanh rừng gọi là bến Trảy.

Nơi bến Trảy có một cái khe gọi là khe đá. Hai bên khe nổi lên hai ngọn núi đất đen, cao chừng 59 thước, mọc toàn cây tràm.

Truyền rằng ở dưới khe có con cù to lớn, đầu quay ra Hòn Bà, đuôi trở vào Phương Mai, thỉnh thoảng cựa mình làm cho cát bồi đất sụp. Khe đá và núi đất đen tại bến Trảy do con cù mà ra. Từ khi ông Núi đến cất chùa tại núi Phương Phi, thuộc hòn Bà, thì cù không cựa quậy được nữa. Nhân dân trong vùng được bình yên.

Tại Huỳnh Giản lại có một bến đò đưa "nậu rổi" ở vùng Triều Châu sang Tân Giản để đi chợ Gò Bồi (phía tây đầm). Nậu rổi toàn là đàn bà con gái, sáng sớm đi chợ bán tôm cá, trưa về Tân Giản nghỉ ngơi, đợi xế chiều đò Huỳnh Giản sang đưa về nhà. Lúc nghỉ ngơi, trai gái thường giao duyên gặp vui xa nhớ. Nên ca dao có câu:

Vui thời một chút ngọt bùi,
Bước qua thân dậu ngậm ngùi nhớ thương.

Kể cũng tình tứ lắm!

Cá ở Triều Chân đem sang các chợ bán là cá biển. Cá đầm Thị Nại cũng rất nhiều, ăn không hết, bán không hết. Người ở quanh đầm dùng làm nước mắm và phơi khô đem bán cho người dân tộc thiểu số vùng cao nguyên.

Cá Thị Nại, Triều Châu ngon không thua cá nước ngọt. Có tiếng ngon nhất là cá nục. Giống cá này có nhiều thứ, được ưa chuộng nhất là cá nục vọng, bị "hất hủi" là cá nục gai. Vì vậy, để bênh vực cá nục gai các chị bán cá vừa bán vừa hát:

Cá nục gai bằng hai cá nục vọng,
Vợ chồng nghĩa trọng,
Nhơn ngãi tình thâm
Xa nhau muôn dặm cũng tầm
Gặp nhau hớn hở tay cầm lời trao.

Cũng ý vị lắm. Dù cá không ngon, chỉ nghe cũng đủ thấy ngon rồi vậy, huống hồ "cá nục Thị Nại ăn mãi không nhàm", cho nên khách phương xa có đến Gò Bồi và Quy Nhơn không nên quên nếm thử cá nục.
Nguồn lợi của đầm Thị Nại chẳng phải chỉ có tôm và cá. Tại bờ phía tây, từ Hưng Thạnh ra tới Bình Thới, ruộng muối thênh thang.

Thành phố Quy Nhơn phồn thịnh, một phần nhờ đầm Thị Nại. Chẳng những nhờ về sản phẩm mà còn nhờ mặt "phong thủy". Theo các thầy địa lý thì mũi Cổ Rùa và Gành Hổ là hai cái răng làm cho đầm Thị Nại trở nên cuộc đất "thủy khẩu giao nha" rất tốt vì nước tích trữ dồn tài lộc cho các miền xung quanh. Nghĩa là về mặt vật chất cũng như về mặt tinh thần, Quy Nhơn chịu ảnh hưởng của đầm Thị Nại không ít. Trái lại, đầm Thị Nại cũng chịu ảnh hưởng của Quy Nhơn rất nhiều vì có Quy Nhơn đầm mới mở mang về mặt thương mại, mới rộn rịp về mặt giao thông. Và từ trước đến nay, Thị Nại đã cùng Quy Nhơn chung vui chung chịu biết bao thăng trầm, suy thịnh.

Nhưng:

Quản bao thế sự thăng trầm,
Nghĩa non đá vững, tình đầm nước sâu.

Ngoài ba đầm đá vững, Bình Định còn nhiều ao, bàu. Đáng kể là:

Giao Trì

Tục gọi là ao cá sấu, ở làng Tài Lương, hội tỉnh, quận Hoài Nhơn.

Trước kia tên là Ngạc Ngư Trì, tức là ao cá sấu.

Năm Minh Mạng thứ 13 mới đổi là Giao Trì tức là ao cá nhám.

Chưa gặp người hiểu biết để hỏi rõ vì sao lại có tên là ao cá sấu và cớ gì lại đổi làm ao cá nhám.

Có hai ao nhỏ ở cạnh nhau, một ở phía bắc hình bầu dục, một ở phía nam hình giằng xay. Cả hai hợp lại thành hình chữ Sơn viết thảo.

Ngạc Đàm

Tục gọi là bàu Sấu ở dưới chân phía tây núi Kỳ Đồng, ở giữa thôn Đại Bình ở phía tây và thôn Triết Tràng ở phía đông (núi Kỳ Đồng nằm trong thôn Thiết Tràng) thuộc huyện An Nhơn.

Gọi là bàu Sấu vì xưa kia có một con cá sấu ở nơi bàu, sau bị lụt trôi đi mất.

Bàu chỉ lớn độ vài ba mẫu, nước sâu, nắng mấy cũng không cạn. Nước bàu do con suối ở vùng núi phía bắc chảy vào, rồi chảy ra bắc phái sông Côn, qua lại Đại Bình và Thiết Tràng, quanh năm phải đi đò chớ không bao giờ lội được.

Bàu rất nhiều cá, nhiều nhất là cá chép. Nhiều con lớn hàng ba bốn búng tay và dài hàng nửa sải, vảy sáng ánh như đồng, mắt đỏ ngời như lửa. Cá sông Côn đều do bàu Sấu mà ra.

Năm Đinh Hợi (1887) bàu Sấu đã chứng kiến một cuộc tranh đấu vừa anh dũng giữa nghĩa quân Cần Vương và giặc Pháp. Mai anh hùng đã dùng bàu Sấu để lập trận thủy bối đánh quân Trần Bá Lộc, tên Việt gian tay sai của thực dân. Sau trận này, nghĩa quân bị tan rã.

Trong bài văn tế Mai anh hùng có câu:

"Đuối tay kinh tế, hàng căn thân đóng khép Đồng Hưu;"
"Kết trận thư hùng, đoàn nghĩa sỹ máu trôi Bàu Sấu"

Ở Tuy Phước có:

Chằm Kim Ngân ở Dương Hội, chằm Thanh Huy ở thôn Thanh Huy. Hai chằm này, nước thông nhau, một nằm ở phía đông, một nằm ở phía tây. Đầm Thanh Huy ở phía đông lại thông với vực ông Đô ở phía đông bắc. Ba chằm này nằm phía tây bắc ga Diêu Trì, dưới chân núi ông Vồ.

Ở dưới chân hòn Sơn Chà, có Bàu Cả ở giữa thôn Long Vân (phía bắc), Phú Tài (phía nam), và Ngọc Châu (phía đông) và đường Q.L ở phía tây. Gối đầu lên hai ngọn núi Sơn Chà, ngó mặt xuống hai ngọn núi Vân Quang.

Bình Khê và Phù Cát, không có bàu ao nào to lớn. Duy ở Đồng Tre thuộc thôn Tả Giang (Bình Khê) có một cái bàu không lớn mấy, nhưng có tiếng:

Bàu Đồn

Bàu nằm dưới một dốc cao gọi là dốc ông Mai.

Nhà anh hùng Mai Xuân Thưởng đã lập một cứ điểm quân sự (đồn bảo) để chống Pháp tại nơi bờ bàu dưới chân dốc. Bởi vậy bàu dốc mới mệnh danh là bàu Đồn và dốc ông Mai.

Đó là một di tích lịch sử nên được nhiều người lưu ý.

Các bàu ao thượng dẫn đều có nhiều cá và nước ít khi bị khô, cho nên đồng bào ở thôn quê rất quí. Nhiều nơi có thể lấp bằng để làm ruộng, những người thấy xa không bao giờ tham chút lợi trước mắt.

Ao bàu giúp cho nhà nông "bát cơm dày, khúc cá ngon", cho nên quí là phải.


----------------------

3. Thắng cảnh, cổ tích

Một tỉnh có thắng cảnh - cổ tích nhiều chừng nào thì nổi danh chừng nấy. Thắng cảnh và cổ tích ở Bình Định không hiếm.

Nhưng hầu hết du khách đến Bình Định, người trong nước cũng như người nước ngoài ngày xưa cũng như ngày nay, ai nấy cũng đều để ý trước nhất đến những cổ tích. Mà vì Đồ Bàn là đất cũ của Chiêm Thành nên cổ tích phần nhiều là dấu tích cũ của Chiêm Thành để lại. Những ngọn tháp cổ đứng sừng sững khắp đó đây và những dấu thành trì nằm dưới lớp rêu xanh sỏi đỏ.



Tháp Cánh Tiên (huyện An Nhơn), ngày xưa nằm trong thành Đồ Bàn ( ảnh Trần Hồng Phong 2013)


Các ngọn tháp

Ở Bình Định hiện còn 8 cụm tháp. Theo con Quốc lộ số 1 đi từ bắc vào nam thì trước hết chúng ta thấy hòn tháp Phú Lộc, tục gọi là Phốc Lốc, và Pháp gọi là Tour d'Or (Tháp Vàng).

Tháp đứng chon von trên ngọn thổ sơn tròn trịa, không cây cối, ở giữa cánh đồng lúa mênh mông, một nửa thuộc Châu Thành (Phù Cát), một nửa thuộc Nhơn Thành (An Nhơn).

Tháp trông có vẻ ngạo nghễ nhưng đượm sắc trầm tư.

Từ tháp Phốc Lốc đi vào một chặng đường nữa lại thấy một ngọn tháp thứ hai cũng cao ngất trời xanh và cũng nhuộm màu bể dâu như Phốc Lốc. Đứng xa nhìn hai ngọn tháp thật giống hai chiếc sừng tê giác phủ khăn đà. Có người lại bảo giống đôi đũa gắp mây trời qua lại.

Ngọn tháp thứ hai đó là tháp Cánh Tiên, chữ gọi là Tiên Dực, và Pháp gọi là Tour de Cuivre (Tháp Thau).
Tháp ở trong phạm vi thành Đồ Bàn cũ, thuộc huyện An Nhơn. Vì đứng trên một gò cao và rộng đến mươi lăm dặm nên ở xa ngó thấy tháp cao ngất, nhưng lại gần vì không thể nhìn thấu chân gò được, trông dường không lấy làm cao. Bởi vậy cảnh tháp ngó không được oai nghi bằng tháp Phốc Lốc. Và cũng như tất cả các cổ tháp khác, tháp này dưới chân đã bị nắng mưa xói mòn nhiều lắm, và trên chóp cũng có đôi chỗ sập hư.

Tháp ở cách miếu Song Trung thờ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu không xa, nên người địa phương có câu:

Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên
Cảm thương ông Hậu thủ thiền ba năm.

Và một nhà thơ đến viếng Cánh Tiên có để lại mấy vần ký thác:

Rồng thiêng tiên cỡi đi đâu?
Cánh Tiên để đó dãi dầu nắng mưa.
Cùng non tháp giữ tình xưa,
Trải bao dâu bể vẫn chưa núng lòng.
Đồ Bàn còn núi còn sông,
Còn tiên kết cánh, còn rồng tuôn mây.

(Nói đến rồng vì có núi Long Cốt bên cạnh)

Qua khỏi Cánh Tiên, đi chừng mươi cây số thì thấy trên đỉnh núi sát bên đường một nhóm bốn tháp: một ngọn lớn ở trên cao, ba ngọn nhỏ ở dưới thấp, xa trông giống hình bốn chiếc bánh ít lá gai lột trần đơm trên mâm cổ bồng vun ngọn. Đó là tháp Thị Thiện, tục gọi là Bánh Ít, thuộc địa phận Tuy Phước, Pháp gọi là Tour d'Argent (Tháp Bạc).

Tại sao gọi là Thị Thiện?

Đại Nam nhất thống chí chép: "Tương truyền có bà Thị Thiện làm quán ở chân núi để bán bánh, nên gọi là tên ấy".

Tháp gọi là Thị Thiện, núi cũng gọi là Thị Thiện. Núi nằm trong địa phận Huỳnh Kim, Vạn Bửu, Phong Niên, Đại Lộc, thuộc quận Tuy Phước. Núi đất trơ trụi và không cao (177 thước) nhưng trông có bề thế.
Dưới chân núi Thị Thiện có con sông (một nhánh của sông Côn) chảy sát đường quốc lộ. Trên sông có cầu tục gọi là cầu Bà Di, nên đi qua tháp Bánh Ít, hành khách thường nghe hát rằng:

Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di,
Sông xanh núi cũng xanh rì,
Vào nam ra bắc ai cũng đi con đường này.
Nghìn năm gương cũ còn đây,
Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu.

Theo tiếng hát mà đi xuống tới địa đầu thành phố Quy Nhơn lại có tháp Hưng Thạnh, Pháp gọi là tháp Kmer (Cờ Me), người mình thường gọi là tháp Đôi.

Mang tên là tháp Đôi là vì tháp có hai ngọn đứng song song trên khoảnh đất liền, một ngọn cao một ngọn thấp, xê xích nhau bên chín bên mười. Tháp trông có vẻ hiền lành, khiêm tốn và đối với cảnh vật chung quanh coi bộ hòa hảo, chớ không có ý cô cao, độc lập như những ngọn tháp vừa qua.

Ở phía bắc tháp có một dãy núi chạy xuống và ở phía tây có một nhánh sông (chi lưu của sông Hà Thanh) chảy ngang. Trên sông có hai cầu, một cầu xe hỏa, một cầu ô tô bắc song song. Người ta gọi là cầu Đôi.
Tháp đã đôi mà cầu cũng đôi - cũng thật hữu tình quá. Bởi vậy những cặp tình nhân thường mượn cảnh cầu cảnh tháp để ngỏ nỗi lòng với nhau. Rằng:

Cầu Đôi nằm cạnh tháp Đôi,
Vật vô tri còn đèo bồng duyên lứa,
Huống chi tôi với mình.

Lại hát nữa rằng:

Tháp kia còn đứng đủ đôi
Cầu nằm đủ cặp, huống chi tôi với nường.
Tháp ngạo nắng sương,
Cầu nương sắt đá.
Dù người thiên hạ,
Tiếng ngã lời nghiêng,
Cao thâm đã chứng lòng nguyền,
Còn cầu còn tháp, còn duyên đôi lứa mình.
Non sông nặng gánh chung tình.

Các ngọn tháp trên đây đều nằm hai bên Quốc lộ 1, Quốc lộ 19, khách du lịch đến thăm viếng được dễ dàng. Ở trái đường xe, cách Quy Nhơn chừng vài chục cây số, có tháp Long Triều ở tại thôn Xuân Mỹ và tháp Thanh Trúc ở thôn Bình Lâm. Cả hai đều thuộc Tuy Phước, đường khó đi nên ít người đến viếng.
Nếu theo dòng sông Côn đi ngược về hướng tây, cách Quy Nhơn chừng ba chục cây số, chúng ta được xem hai cụm tháp nữa là tháp Thủ Thiện và tháp Dương Long.

Tháp Thủ Thiện, người Pháp gọi là Tour de Bronze (Tháp Đồng) đứng trên một dãy gò thấp, chung quanh ruộng nương, làng xóm, thuộc thôn Thủ Thiện xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn. Tháp đứng một mình, trên đỉnh có một cây đa cổ thụ, cành lá sum sê, đứng lắc la lắc lẻo, làm cho cảnh tháp trông thêm phần cổ kính.
Tháp Thủ Thiện ở bên nam ngạn sông Côn, cách sông chừng một cây số. Tháp Dương Long ở bên bắc ngạn sông Côn và cách tháp Thủ Thiện chừng bốn năm cây số.

Tháp Dương Long gồm có ba ngọn đứng ngang nhau trên một nổng gò cao, một nửa thuộc thôn Vân Tường, một nửa thuộc thôn Trường Định, quận Bình Khê. Ngọn tháp chính giữa cao hơn hai ngọn hai bên, một mười một tám. Người Pháp gọi tháp này là Tour d'Ivoire (Tháp Ngà).

Trong các tháp ở Bình Định, tháp Dương Long ít hư hơn hết và cũng đẹp hơn hết.

Về mặt kiến trúc, tháp này về kiểu thức cũng như về cách xây dựng không khác mấy các tháp trong nước, trong tỉnh: cũng xây bằng gạch nung đỏ nhưng không thấy dấu hồ, cũng chân vuông đỉnh nhọn, kiên cố hoành tráng. Song ở những hình chạm trổ trên đá xanh nguyên khối, trang trí nơi cửa tháp, bốn phía tháp và trên đỉnh tháp trông vẫn còn rõ ràng như mới. Kỹ thuật điêu khắc thật tinh vi. Những con vật kỳ hình, dị dạng, những vị thần mặt mày dữ tợn, những vũ nữ đương múa…, được chạm khắc tỉ mỉ, đường nét mềm dẻo nhịp nhàng, trông linh động như sống. Các nhà khảo cổ nước ngoài đến Bình Định, đều tìm đến xem tháp này, ai nấy cũng đều công nhận là một trong những ngọn tháp đẹp trong các tháp Chiêm Thành còn sót lại trong các tỉnh.

Tháp Dương Long và tháp Thủ Thiện xưa kia làm móc ranh giới cho ấp Tây Sơn, nơi phát tích nhà anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và vị nguyên soái lãnh đạo phong trào Cần Vương bốn tỉnh Bình, Phú, Khánh, Thuận Mai Xuân Thưởng, mà dấu thành lũy vẫn còn nơi núi Hương Sơn cảnh tháp.

Bởi vậy khách du lịch qua nơi này thường nghe hát rằng:

Vững vàng tháp cổ ai xây?
Bên kia Thủ Thiện, bên này Dương Long.
Nước sông trong,
Dò lòng dâu bể,
Tiếng anh hùng,
Tạc để nghìn thu…
Xa xa con én liệng mù,
Tiềm long hỏi chốn, vân du đợi ngày.

Những ngọn tháp của Chiêm Thành xây lên chắc để thờ phượng. Khắp miền Trung chỉ còn một ngọn tháp còn đủ tượng thần, bàn thờ và được người Việt Nam tiếp tục lễ bái là tháp Thiên Y-A-Na ở Nha Trang. Còn tất cả đều hoang phế. Trong các tháp Bình Định, ngoài những hình tượng trang trí, không còn thấy một tượng thờ nào, cũng không còn thấy dấu bàn thờ. Lòng tháp đều trống không, lâu lâu một viên gạch cũ rơi rụng, tiếng vang dội vào trong lòng những người hay cảm cổ thương kim.

Những cảnh tháp Chiêm Thành đã khơi nguồn hứng cho nhà thơ Chế Lan Viên sáng tác tập Điêu tàn giá trị. Chế quân đã "Bên cửa tháp ngóng trông người Chiêm nữ" và còn gởi tình trong mấy vần thơ:

Đợi người Chiêm nữ

Tối hôm nay chị Hằng nghiêm nghị quá,
Dãy cây bàng đợi mộng, đứng im hơi.
Không một mối trăng ngà rung muôn lá,
Không một làn mây bạc vẩn chân trời.
Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở
Trong sương mờ huyền ảo, lắng tai nghe
Từ một làng xa xôi, bao tiếng mõ
Tan dần trong im lặng của đồng quê.
Bên cửa tháp ngóng trông người Chiêm nữ,
Ta vẩn vơ nhìn không khí bâng khuâng:
Vài ngôi sao lẻ loi hồi hộp thở
Một đôi cành tơ liễu nhúng trong trăng.
Nàng không lại, và nàng không lại nữa!
Cả thân ta dần tan trong hơi thở!
Ôi đêm nay, lòng hỡi biết bao sầu!
Kìa trời ca, trên mãi chín tầng cao,
Hồn ta bay trong một làn khói tỏa,
Chẳng biết rồi lưu lạc đến nơi nao?

Cùng với những ngọn tháp Chiêm Thành xưa, người Bình Định chung lòng hoài cổ. Bạn đến viếng cảnh, lòng tha phương chắc cũng không khác lòng địa phương.

Các dấu thành cũ

Ở bên cạnh các tháp thường có dấu thành trì.

Bên cạnh tháp Dương Long có dấu thành Cha.

Bên cạnh tháp Thủ Thiện có dấu thành Sức.

Tháp Cánh Tiên thì nằm trong phạm vi thành Đồ Bàn.

Dưới chân tháp Phốc Lốc cũng có dấu thành, song không biết là thành của người Chiêm Thành xây từ trước, hay là của người Việt Nam mới xây lúc chúa Nguyễn dời phủ lỵ Quy Nhơn ra Châu Thành.

Ở thôn Phú Phong, huyện Tây Sơn, không thấy có dấu thành, song theo sách Đồ Bàn ký của Hoàng Giáp Nguyễn Văn Hiển, thì ở đó có thành Uất Trì. Thành ở nơi nào không ai biết đích xác. Hiện ở địa hạt Phú Phong có dấu thành ở tại Núi Xanh, tục gọi là thành Bá Bích, và ở trên đỉnh núi Chớp Vàng cũng có dấu thành và một số gạch vụn rất cổ, tục truyền là thành chàng Lía. Thành Uất Trì có lẽ là một trong hai nơi đó.
Những thành Uất Trì, thành Cha, thành Sức… không biết có phải là nơi các vua Chiêm Thành đã đóng đô hay không. Ai xây và xây thời đại nào? Không thấy sách nào nói rõ. Duy thành Đồ Bàn sách sử có nói tường tận, và hiện còn nhiều dấu tích đáng xem.

Thành Đồ Bàn

Thành Đồ Bàn tục gọi là thành Cũ, nằm trên dãy gò sỏi trùm hai thôn Nam An và Bắc Thuận thuộc huyện An Nhơn.

Thành do vua Chiêm Thành Ngô Nhật Hoan xây vào thế kỷ thứ X. Tường bằng gạch, mặt hướng về nam, chu vi hơn mười dặm, có bốn cửa, kiến trúc rất kiên cố. Bên trong có dựng tháp làm bảo chướng. Bên ngoài có dãy đồi Kim Sơn làm cánh che cửa Tây, có núi Long Cốt làm tiền án và gò Thập Tháp yểm hậu. Ngoài xa nữa, khắp bốn mặt lại có núi trùng điệp sông quanh co, biển bát ngát triều ủng. Khí thật là hùng, thế thật là hiểm.

Địa thế của Đồ Bàn rất có lợi cho Chiêm Thành về mặt quân sự.

Vào cuối thế kỷ thứ XIII, vua nhà Nguyên muốn đánh chiếm nước Việt Nam, bèn sai con là Thoát Hoan cùng Toa Đô, Ô Mã Nhi lãnh 50 vạn quân Nam tiến. Quân Nguyên chia làm hai đạo, một đạo do Thoát Hoan chỉ huy, đánh thẳng sang Việt Nam, còn đạo thứ nhì gồm mười vạn thủy quân, do Toa Đô làm tướng đi đường biển vào đánh Chiêm Thành để rồi tiếp ứng đạo quân Thoát Hoan.

Quân Toa Đô rầm rộ đột nhập Thị Nại. Bị đánh thình lình, quân giữ Thị Nại bị thua. Nhưng quân Toa Đô vừa kéo lên bờ thì quân Đồ Bàn chận đánh, quân Thị Nại tập hợp lại được liền đuổi theo. Quân Toa Đô trước sau đều bị công kích, không chống nổi, phải kéo nhau chạy bộ ra Bắc và khi đến địa phận Việt Nam thì bị quân nhà Trần tiêu diệt.

Năm Bính Thìn (1376) Chế Bồng Nga đem đến Hóa Châu 15 mâm vàng để cống vua Việt Nam. Quân trấn thú Hóa Châu là Đỗ Tử Bình đã không đệ nạp, lại dâng sớ nói dối rằng vua Chiêm Thành tìm đến nhục mạ, xin vua cử binh đánh phạt. Vua Duệ Tông nghe lời, sai Hồ Quý Ly đốc vận lương thực đến cửa biển Di Luận (Quảng Bình), còn tự mình đem 12 vạn quân vừa thủy vừa bộ đi thẳng vào Nhật Lệ. Đến Nhật Lệ nhà vua đóng binh một tháng để thao diễn.

Qua tháng giêng năm sau, tức năm Đinh Tý (1377), nhà vua mới tiến quân. Binh Trần tiến vào cửa Thị Nại, khí thế rất mạnh. Quân Chiêm Thành không kháng cự, bỏ thủy trại rút hết lên thành Đồ Bàn. Quân nhà Trần lấy được đồn Thạch Kiều và động Kỳ Mang, rồi kéo lên đánh thành Đồ Bàn.

Chế Bồng Nga làm cừ sắt ngoài thành, rồi làm kế dụ, cho người sang dinh Trần trá hàng nói rằng Chế Bồng Nga liệu thế không chống cự nổi, đã bỏ thành chạy trốn rồi. Trần Duệ Tông tưởng thật, hạ lệnh tiến binh. Vừa đến chân thành Đồ Bàn thì bị phục binh ùa ra vây thành. Quân ra không đề phòng bị đại bại. Vua Trần Duệ Tông tử trận. Tướng sỹ lớp bị giết, lớp bị vướng phải cừ sắt, mười phần chết đến bảy tám.

Năm Quý Mùi (1403) Hồ Hán Thương sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem quân thủy bộ cả thảy 20 vạn vào đánh Đồ Bàn. Quân nhà Hồ vây thành hơn một tháng, mà hạ không nổi. Đợi lúc quân nhà Hồ cạn lương, quân Chiêm mới mở cửa thành kéo ra. Sức quân nhà Hồ đã kiệt, sức quân Chiêm Thành nuôi dưỡng đương mạnh, nên chỉ đánh có một trận mà quân Chiêm Thành đã đuổi được quân nhà Hồ.

Thành Đồ Bàn giữ được là nhờ địa lợi.

Nhưng về sau khí vận Chiêm Thành xuống lần lần, cho nên năm Bính Dần (1446), vua Lê Nhân Tông sai Lê Thụ và Lê Khả đem đại binh vào đánh Đồ Bàn, vua Chiêm Thành là Bi Cái không chống nổi, bị bắt đem về Thăng Long. Thành Đồ Bàn bị lấy, nhưng vua Lê trả lại cho người Chiêm và lập người khác lên làm vua thay thế Bi Cái.

Đến năm Canh Thìn (1470) vì vua Chiêm là Trà Toàn gây sự, vua Lê Thánh Tông cử hơn hai mươi vạn tinh binh vào đánh Chiêm Thành. Đến Thuận Hóa, vua đóng quân lại, một mặt cho thao luyện binh sỹ, một mặt sai người vào Đồ Bàn vẽ bản đồ để biết rõ địa thế.

Rồi tiến binh cả hai mặt, thủy bộ, một lần.

Quân nhà Lê cứ nhắm những nơi hiểm yếu mà tấn công. Quân Chiêm Thành chống không lại, rút vào thành Đồ Bàn chống giữ. Thành trì tuy kiên cố, song nhuệ khí quân Chiêm đã nhụt vì vừa bị thua, và sức lực quân nhà Lê đương hăng vì vừa được thắng, nên chỉ mấy hôm công phá, đã hạ được thành Đồ Bàn và bắt sống được Trà Toàn.

Vua Lê Thánh Tông lấy đất Đồ Bàn sáp nhập vào đạo Quảng Nam, làm một phủ đặt tên là Hoài Nhân. Thành Đồ Bàn dùng làm phủ lỵ và gọi là thành Hoài Nhân.

Sang thời chúa Nguyễn vào Nam dựng nghiệp, năm Ất Tỵ (1605), Nguyễn Hoàng đổi tên Hoài Nhơn làm Quy Nhơn.

Năm Tân Mão (1651), chúa Nguyễn Phúc Tần đổi Quy Nhơn làm Quy Ninh. Nhưng đến năm Tân Dậu (1741) chúa Nguyễn Phúc Khoát lại lấy lại tên Quy Nhơn và sang năm Giáp Tý (1744) bỏ thành Đồ Bàn cũ, dời phủ lỵ ra thôn Châu Thành.

Đến đời Tây Sơn, năm Bính Thân (1776), Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Quy Nhơn là kinh đô và sửa sang thành Đồ Bàn làm kinh thành. Thành lấy tên là Hoàng Đế Thành với quy mô rộng lớn. Thành xây toàn đá ong, cao một trượng bốn thước, dày hai trượng. Trước kia chu vi thành chỉ có mười dặm, nay mở thêm xuống mặt đông, chu vi nới thành 15 dặm. Thành cũ chỉ có bốn cửa, Nguyễn Nhạc trổ thêm một cửa nữa ở mặt thành phía trước, nơi mới xây thêm và đặt tên là Tân Môn. Còn cửa nam môn cũ gọi là Vệ Môn. Trong thành đắp nhiều thổ sơn dùng để xem thế giặc nếu rủi thành bị vây. Phía tây thành đắp đê Đỉnh Nhĩ để ngăn nước lụt. Phía tây nam đắp đàn Nam Giao để tế trời đất. Phía trong thành lại còn xây một lớp thành nữa gọi là Tử thành. Trong Tử thành, chính giữa dựng điện Bát Giác là nơi vua ngự. Phía sau dựng điện Chánh tẩm, phía trước dựng lầu Bát Giác, bên tả bên hữu dựng hai tự đường, một thờ cha mẹ ruột, một thờ cha mẹ vợ của nhà vua. Trước lầu Bát Giác lại có cung Quyển Bồng và liền với mặt nam tử thành có cửa Tam Quan gọi là Quyển Bồng Môn, xây cổ lầu nên cũng gọi là Nam Môn Lâu. Trong thành và ngoài thành bài trí la liệt những tượng đá, nào voi nào nghê, nào nhạc công nào vũ nữ, là những di tích của người Chiêm Thành còn lưu.

Thành lúc bấy giờ thật là nguy nga tráng lệ.

Nguyễn Nhạc giữ ngôi vua ở Hoàng Đế Thành được 18 năm.

Đến năm Quí Sửu (1793), Nguyễn Nhạc chết, thành Đồ Bàn lệ thuộc Phú Xuân, không còn là kinh thành nữa. Tên Hoàng Đế Thành bỏ và lấy lại tên Quy Nhơn.

Năm 1799, Nguyễn Ánh lấy được thành Quy Nhơn, và đổi tên là Bình Định.

Thành Đồ Bàn mang tên Bình Định bắt đầu từ đấy.

Nguyễn Ánh giao thành cho hai tướng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu giữ. Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu đem quân từ Phú Xuân vào đánh, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đánh không lại nên đóng cửa thành trì thủ. Lâu ngày lương cạn, tướng sĩ mỏi. Liệu không giữ nổi nữa, Võ Tánh lên lầu Bát Giác tự thiêu và Ngô Tùng Châu uống thuốc độc tuẫn tiết. Thành trở về nhà Tây Sơn. Nhưng không bao lâu, nhà Tây Sơn bị dứt (1802), thành Bình Định thuộc hẳn về nhà Nguyễn. Vua Gia Long bèn lập lăng cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu và dùng lầu Bát Giác làm nơi hương hỏa.

Thành Bình Định từ ấy trở thành lỵ sở của quan trấn thủ địa phương.

Năm Gia Long thứ 12 (1814) trấn thành dời vào phía nam, trừ lầu Bát Giác được sửa sang lại làm miếu Song Trung, các cung điện cũ đều bị triệt hạ. Đá ong của thành cũng bị dỡ đem xây thành mới.
Thành Đồ Bàn từ ấy chỉ còn trơ một dãy gò sỏi mênh mông với ngọn tháp Cánh Tiên và lầu Bát Giác.
Trước đây một xử sỹ đất Hoan Châu (Nghệ An) là Nguyễn Khôi, đi ngang qua thành cũ Đồ Bàn, có bài điếu cố, rằng:

Đế vương khấu lỗ vị thời lôn,
Nhất phiến phong quang kỷ hiểu hôn
Ca quản lâu đài hòa cự lũng,
Tấn thân đình viện giá tang thôn
Cố khưu lưu lạc anh hùng phách,
Cô trủng thê lương tráng sỹ hồn!
Đa thiểu hào quang vân cọng tán
Duy dư tiên tháp lão càn khôn.

Phỏng dịch:

Ai vua ai giặc khôn bàn
Phong quang một mảnh ngỡ ngàng hôm mai.
Vườn dâu lấp nẻo cân đai
Nơi xưa ca viện vũ đài: Gò không
Mồ hoang lạc phách anh hùng,
Hồn thiêng tráng sĩ lạnh lùng gió sương
Mây tàn tàn cả ánh dương
Tháp tiên riêng vững can trường nghìn thu.

Bài điếu cổ trên có chỗ chép khác:

Đế vương khấu lỗ dĩ thời lôn
Cổ vãng kim lai hỷ hiểu hôn
Ca quản lâu đài hòa cự dã,
Tấn thân đình viện đố tang thôn
Cố khư liêu lạc anh hùng phách
Cổ lũy phiêu linh chiến sỹ hồn
Đa thiểu hào hoa vân quyện khứ
Duy dư tiên tháp lão kiền khôn.

Nghĩa là:

Rằng giặc rằng vua lý chẳng cùng,
Xưa qua nay lại phải rồi không.
Cân đai viện ngọc dâu đầy xóm,
Đàn hát đền hoa lúa mịt đồng.
Lũy cổ đìu hiu hồn chiến sỹ,
Gò hoang lạnh lẽo phách anh hùng.
Hào hoa nhiều ít mây bay sạch.
Tiên tháp tình riêng vững núi sông.

Thơ về Đồ Bàn còn nhiều nhưng toàn là thơ chữ Hán. Thơ Quốc âm chỉ thấy một bài của ông bạn Thọ Nguyên.

Trăm rưỡi năm trên một chiến trường
Bàn thành nay rặc dấu tang thương.
Tháp tiên dạm mặt nhìn sông núi,
Voi đá trơ hình ngạo nắng sương.
Thế cuộc trải xem bao mộng huyễn,
Anh hùng trông thấy một tòa hương.
Nồi da xáo thịt ôi nòi giống,
Trang sử trung hưng giọt máu hường.

Quang cảnh thành Đồ Bàn trước kia còn thế, huống hồ ngày nay đã dồn không biết bao nhiêu lần bể dâu.

Chuyện xưa lấp cỏ mờ rêu
Gót chân hờ hững mai chiều lại qua.

Mai chiều lại qua, khách vô tâm cớ ngờ đâu nơi đây, ngoài những chiến công oanh liệt, còn để lại nhiều sự kiện lịch sử mà khách du qua đó, nếu để lòng, lòng không dễ dửng dưng.

Kìa trên sắc cỏ màu cây héo hắt, trông mơ màng vẻ tiều tụy của công chúa Huyền Trân vì non sông mà phải vào đây... Và những khi đêm nguyệt mờ sương, bờ lau hắt gió, bồi hồi thổn thức, dường đâu đây ca khúc Nam Bình:

Nước non nghìn dặm ra đi…
Mối tình chi?
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly…
Xót xa vì đương độ xuân thì…
Độ xuân thì
Bởi oan khiên hay là nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết
Cũng liều như hoa tàn nguyệt khuyết,
Vàng lộn theo chì
Khúc ly ca sao còn lận bận nghe gì?
Tiếng chim hồng nhạn bay đi,
Tình lai láng, bóng như hoa quỳ
Nhắn một lời Mân Quân:
Nay mà như nguyệt
Đặng vài phân
Vì lời cho dân.
Tình đem lại mà cân:
Đắng cay muôn phần.

Tình thật là não nùng. Nghĩ đến cảnh Huyền Trân, người địa phương có câu:

Má hồng đền nợ quân vương,
Những tay chống đỡ miếu đường là ai?

Thương người thục nữ vì nước quên mình, chúng ta không khỏi thầm trách khách anh hùng vì mình suýt cắt đứt tình cốt nhục: Hai anh em vua Tây Sơn, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

Nguyên sau khi dẹp xong họ Trịnh ở miền bắc, hai anh em bất hòa nhau về việc chia nước non. Nguyễn Huệ ở Phú Xuân kéo quân vào Quy Nhơn đánh Nguyễn Nhạc. Quân Phú Xuân chiếm các nơi hiểm yếu, rồi đặt súng thần công trên dãy Long Cốt bắn vào thành Đồ Bàn. Nguyễn Nhạc bị khẩn, làm lễ tạ Thế Miếu, rồi lên thành kêu em mà khóc rằng:

Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn

Nguyễn Huệ động lòng khóc theo, rồi rút quân. Từ ấy hai anh em lại hòa thuận như cũ.
Nhân câu nói của Nguyễn Nhạc, bà thân sinh nhà thơ địa phương Cổ Bàn Nhân diễn dịch ra quốc âm rằng:

Lỗi lầm anh vẫn là anh
Nồi da nấu thịt sao đành hỡi em?

Nhắc đến nhà Tây Sơn chúng ta phải liên tưởng đến chén thuốc độc và ngọn lửa hồng của song trung Ngô Tùng Châu và Võ Tánh.

Truyền rằng: nghe tin Võ Tánh sắp tuẫn tiết, một người ái thiếp và một người lão bộc xin được chết theo. Võ công không cho, nhưng khi công đã lên giàn hỏa rồi, thì hai người tự trói mình vào cột lầu Bát giác, lửa cháy đều chết; đồng thời quan tổng binh là Nguyễn Thận ở ngoài vào trông thấy, cảm khích cũng nhảy vào lửa chết theo luôn.

Khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, lấy lầu Bát Giác làm nơi hương khói cho họ Võ, họ Ngô và làm lễ truy điệu trọng thể. Trong bài văn tế do Đặng Đức Siêu soạn, có câu:

Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết, ngọn lửa hồng mát mẻ tấm trung can
Chỉ nước non giã với cô thành, chén thuốc độc ngọt ngon mùi chính khí

(Câu này các sách chép có đôi chữ khác… ngọn quang minh un mát tấm trung can… Chén tân khổ nhắp ngon mùi… Song ở nơi miếu thì khắc như trên).

Câu này được trích làm câu đối thờ nơi miếu song trung.

Ngoài câu đó ra, nơi miếu còn nhiều câu đối bằng Hán tự rất hay, song câu sau đây được truyền tụng nhất:

Quốc sỹ vô song, song quốc sỹ;
Trung thần bất nhị, nhị trung thần.

Võ Tánh, Ngô Tùng Châu vì nghĩa mà chết. Người lão bộc và quan tổng binh cũng vì nghĩa mà chết. Thế mà họ Võ họ Ngô có sử ghi chép, có đền thờ phụng, có văn thơ ca tụng, còn các người kia thì:

Lửng lơ bia miệng giấy trời,
Âm thầm bút tháp chép đời trung trinh.

Khách du qua đó, nhìn cảnh trước mắt, nghĩ chuyện nghìn xưa, lòng ai khỏi thê nhiên cảm khái.

Nhưng nếu chúng ta trèo lên hòn tháp Cánh Tiên trông ra bốn mặt, thâu nghìn dặm vào tấc gang, gần từ nội cỏ, xa đến chân trời, nào cao nào thấp, nào thanh nào u, thảy đều hợp thế hợp tình trình bày ra dưới tháp, thì lòng tự nhiên mở rộng và thân dường mọc cánh lên tiên.

Kìa ở phía đông thành, có ao Liệt Trì, tục gọi là bàu Sức, rộng đến vài ba chục mẫu, nước cạn nhưng trong. Xa xa có những vũng nước tròn và hẹp, đó là ao Lực Tụng; những đường nước cong và dài, đó là mương Thủy Câu. Bên ao gò đống chồng chất nửa ẩn nửa hiện, đó là dấu vết cửa đông mà sắc đá ong chưa hết đỏ.

Ở phía tây gần bên thành, gò Kim Sơn (tên do Nguyễn Nhạc đặt), từng vồng từng vồng nối tiếp như sóng cuộn.

Ở phía nam, núi Long Cốt nổi lên ba ngọn tròn trịa như ba khúc xương rồng uốn trong mây và dưới núi bóng xoài xanh làm nổi bật sắc sỏi đỏ.

Nơi góc đông bắc, hồ nước láng lai, hình trông như một chiếc khánh bạc. Hồ không bao giờ cạn và truyền rằng xưa kia có giống thủy tộc linh thương nương náu, những năm trời hạn, hễ nước hồ thấy trắng hoặc đỏ, thì nhất định một vài hôm sau có mưa to. Vì thế người địa phương gọi là Linh Hồ.

Ở phía bắc, xưa kia có nổng gò cao với mười ngọn tháp chơm chởm: gò Thập Tháp, mà nay là chùa Thập Tháp Di Đà với vườn xoài thâm u tĩnh mịch.

Đó là những cảnh gần.

Xa xa, cách thành chừng bốn năm cây số, về mặt đông, ngọn núi Mò O đứng ngước miệng lên lưng mây "Mắng Trời" và về mặt tây, sông Côn chia ra bốn nhánh chảy xuống đông bắc, chảy xuống đông nam… rồi hợp nơi đập Lý Nhơn, như những cánh tay của con bạch tuột ôm giữ tiếng mồi ngon là thành Đồ Bàn.

Ngoài xa nữa: phía đông, cửa biển Thị Nại và đầm Thị Nại nằm giữa những gành đá cửa sông mênh mông bát ngát, một bên thì bán đảo Phương Mai che chở ở mặt đông, một bên thì động Kỳ Mang yểm hộ ở mặt tây. Vị trí thật tốt. Còn ba mặt nam tây bắc, thì núi non trùng điệp dựng nên "tiểu vạn lý trường thành" hùng tráng hoành vỹ, mà đèo An Khê ở phía tây, đèo Thạch Đê ở phía bắc, đèo Cù Mông ở phía nam, là những cửa thành có thế "bách nhị".

Khí thế thật là hiểm và hùng.

Xem qua hình thế núi sông, chúng ta phải công nhận người Chiêm Thành đã khéo lựa nơi đóng đô. Và thành Đồ Bàn với đại trí như kia, đứng vững trong bao nhiêu thế kỷ là phải lắm.

Thành Bình Định

Như trên đã nói, từ đời Lê đến đời Tây Sơn, lỵ sở của cấp chỉ huy tối cao ở địa phương đều đóng tại thành Đồ Bàn cũ. Đến năm Gia Long thứ 12 (1814) lỵ sở mới dời vào phía nam và thành Đồ Bàn bị triệt hạ để lấy vật liệu xây thành mới.

Thành tuy mới nhưng vẫn mang tên cũ đã đặt cho thành Quy Nhơn, tức thành Đồ Bàn cũ, từ năm Kỷ Mùi (1799) lúc Nguyễn Ánh chưa thống nhất lãnh thổ: Bình Định.

Thành Bình Định nằm trên hai thôn An Ngãi và Liêm Thực thuộc quận An Nhơn.

Địa cuộc của thành rất tốt: Dựa lưng vào núi Mò O ở mặt bắc, và lấy dãy Triều Sơn làm tiền án ở mặt nam. Thành xây trên một dãy gò thấp, nhưng đứng nơi thành ngó vào dãy Triều Sơn thì thấy núi hạ thấp xuống như đàn voi phủ phục trước người quản tượng. Hai nhánh nam phái và trung phái của sông Côn cùng các nhánh sông khác lại còn tạo thêm cho thành cái thể "tứ thủy triều qui" tức là bốn mặt nước về chầu. Cảnh trí thật đẹp, có thể gọi là đắc địa.

Vách thành xây toàn đá ong lấy ở thành cũ. Chu vi trên ba cây số, cao ba thước rưỡi tây và dày gần một thước trên đầu thành - còn dưới chân thành, phía trong đắp đất dày đến mươi thước và chạy lài lài lên đến đầu thành. Trông thật hoành tráng bốn mặt thành trổ bốn cửa, xây cổ lầu đồ sộ, kiên cố. Ngoài thành có hào sâu bao bọc. Để vô ra, trước cửa thành có xây cổng bằng đá, hình cầu vồng. Trong thành dựng hành cung, là nơi nhà vua nghỉ ngơi những khi hành du và các quan cùng những người có phẩm hàm từ cửu phẩm trở lên đến bái mạng trong những ngày khánh tiết; những dinh thự của các quan tỉnh tòa ngang dãy dọc, tráng lệ nguy nga.

Chung quanh các cung thự đều trồng xoài, bóng mát, trái ngọt. Quang cảnh thành có vẻ sầm tịch u nhàn.
Nhưng dưới bầu không khí yên tĩnh, hiền hậu, thành Bình Định đã chứng kiến nhiều sự kiện hùng tráng có, bi đát có, hài hước có.

Năm Ất Dậu (1885) nước mất, vua chạy, các sĩ phu trong nước hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp, thành Bình Định đã anh dũng chống cự cùng quân xâm lăng mấy trận. Sau vì viên Tổng đốc là Lê Bá Thận phản bội, bắt bỏ ngục người cộng tác là chí sĩ Nguyễn Cung (án sát) rồi mở cửa thành đầu giặc. Nguyễn Cung xé vạt áo trắng, cắn tay lấy máu viết tâm thư gởi đến nghĩa quân ở An Khê, rồi tuẫn tiết ở trong ngục. Quân Pháp lấy được Bình Định rồi thì giao thành cho quan nam triều đóng cơ quan hành chánh tỉnh, còn chánh quyền thực dân thì đóng tại Quy Nhơn.

Năm Mậu Thân (1908), hưởng ứng phong trào "khất sưu" nam nghĩa, đồng bào Bình Định kéo nhau đến tỉnh kêu xin hai quan chánh phủ Pháp, Nam giảm bớt gánh nặng cho dân. Quan tỉnh đóng cửa thành không cho vào. Đồng bào phải tụ tập ở ngoài thành, bắt ống loa kêu gọi. Vâng lệnh quan trên, lính tỉnh ở trên mặt thành bắn vãi vào đám lương dân, lớp bị thương, lớp thiệt mạng.

Dưới triều Thành Thái (1889-1907), Nguyễn Thân ngồi ghế Tổng đốc Bình Định, máu người Bình Định đã chảy một cách oan uổng, không biết bao nhiêu lần. Có một chuyện ở Bình Định, ai ai cũng biết, là chuyện Nguyễn Thân giết Bá hộ Huệ.

Bá hộ Huệ tên Trịnh Đình Huệ, thôn Bá Canh, quận An Nhơn, là một nhà cự phú tỉnh Bình Định thời bấy giờ, người hào hiệp khí khái. Nguyễn Thân đến lỵ Bình Định, Bá hộ Huệ đến mừng một tấm biển cẩn xà cừ bốn chữ "Thiên Lý Nhân Lương" nghĩa là người hiền tiếng bay xa nghìn dặm. Quan Tổng đốc rất lấy làm vừa lòng, đem treo ngay giữa dinh. Một hôm, một nhà nho địa phương đem lễ vật đến mừng nữa. Quan Tổng đốc khoe tấm biển, nhà nho mỉm cười, quan hỏi không nói. Gạn hỏi năm ba phen, nhà nho khúm núm bẩm:

- Nói ra sợ cụ lớn bắt tội.

Nguyễn Thân nài ép mãi. Nhà nho ung dung thưa:

- Đây là một cách chơi chữ. Chữ Thiên chữ Lý ghép lại thành chữ Trọng. Chữ Lương và chữ Nhân ghép lại thành chữ Thực. Kẻ đi bức hoành này muốn chửi cụ lớn là vị quan "Trọng Thực", tức ham ăn.

Nguyễn Thân căm giận, cho trát đòi Bá hộ Huệ phải đến tỉnh hầu vào buổi chiều hôm sau.

Trời vừa chiều, thầy Bá đã đến dinh quan Tổng đốc, nhưng mãi đến nhá nhem tối, quan mới mời vào, và quở:

- Sao tới giờ này mới đến?

Thầy Bá nói lớn:

- Tôi chờ cụ Lớn, "đầu thân mút dậu", chớ đâu phải mới tới bây giờ.

Câu "đầu thân mút dậu" có hai nghĩa. Nghĩa đen là từ đầu giờ Thân, tức là vào khoảng ba bốn giờ chiều, đến cuối giờ Dậu, tức vào khoảng bảy giờ tối. Nghĩa bóng chửi cụ Lớn "Thân mút Dậu". Bởi vậy, Nguyễn Thân đã căm hờn lại căm thù thêm và quyết rửa hận cho kỳ được.

Nguyễn Thân bèn truyền hạ ngục Bá hộ Huệ. Mấy hôm sau mật sai người giữ ngục nửa đêm lén thả những phạm nhân trọng tội ra và xúi giục đi trốn, rồi chận bắt trở lại bảo khai rằng Bá hộ Huệ âm mưu… Trăm miệng một lời, Bá hộ Huệ bị xử tử. Hồn oan theo Nguyễn Thân đòi thường mạng suốt mấy mươi năm… và ở Bình Định hễ nhắc đến Nguyễn Thân thì nhắc đến chuyện giết Bá hộ Huệ.

Dưới triều Bảo Đại có một lúc quan Tổng đốc và quan Bố chánh đã làm cho nơi công đường nghiêm trang trở thành một nơi hý trường giúp vui cho thiên hạ. Đó là thời cụ Vương Tử Đại ngồi ghế Tổng đốc và cụ Nguyễn Bá Trác ngồi ghế Bố chánh. Cụ Thượng vốn là thông ngôn tòa sứ xuất thân, giỏi Pháp văn, thông tây học. Cụ Bố là một tay khoa bảng đã từng cùng các nhà chí sĩ đông du, sau về đầu đầu thú được miễn tội, ra giúp tạp chí Nam Phong, rồi được bổ đi làm quan lớn. Hai bên ghét nhau ra mặt. Cụ Bố thường lấy thơ văn làm binh khí để công kích cụ Thượng. Những tật xấu, việc xấu của cụ Thượng đều bị cụ Bố truyền làm thơ. Có mười bài tứ tuyệt gọi là Bình Thành thập thủ, được phổ biến tận đến hương thôn. Có hai bài được truyền tụng nhất là "Khán hổ bì" và "Ký cốc xa".

Khán hổ bì là xem da cọp.

Nguyên có một thiếu phụ tên Võ Thị Cú ở Phù Mỹ chê chồng, kiện xin ly dị. Người chồng không chịu. Vụ kiện kéo dài. Để cho được kiện, Võ Thị Cú lén vào dinh quan Tổng đốc để lo lót. Mong che mắt thế gian, Thị chờ đến đêm mới vào. Chẳng may quan Bố biết được, liền thẳng đến dinh Tổng đốc. Thấy bóng dáng quan Bố, Võ Thị Cú lật đật đứng dậy nép vào vách. Quan Bố bước vào chỉ mặt Võ Thị Cú thét mắng:

- Mi là con đàn bà kiện để chồng, sao đang đêm dám vào dinh cụ Lớn?

Đoạn thét lính bắt trói.

Quan Tổng đốc lính quýnh, không biết gỡ gạc thế nào. Nhân trên vách nơi Võ Thị đứng có treo tấm da cọp làm đồ trang trí, quan Tổng đốc liền nói:

- Con nhỏ dại quá. Nó vào thấy tấm da cọp, tò mò đứng xem. Xin quan lớn hỉ xả.

Quan Bố ra về làm bài thơ Khán hổ bì để ngạo quan Tổng đốc, rằng:

Bạc hạnh lang quân thiếp tảo tri.
Lang quân tư thiếp, thiếp tư ly.
Nhi kim dục ngoài ly lang kế,
Dạ nhập dinh môn khán hổ bì.

Nghĩa là:

Sớm hay chàng vốn bạc tình,
Chàng dù thương thiếp, thiếp đành phân ly.
Cung loan mong đứt giây tỳ,
Đang đêm vào "khán hổ bì" dinh quan!

Vương Tử Đại một khi đến Bình Định liền niêm yết cấm việc hối lộ. Một hôm quan cải trang làm thường dân mướn xe kéo đi chơi quanh ngoài thành, để dò xét dân tình. Quan hỏi người phu xe:

- Nghe đồn quan Tổng đốc đương kim thanh liêm chánh trực lắm phải không chú?

Không biết rằng người ngồi xe là quan Tổng đốc, người phu xe thật tình đáp:

- Dạ, phải, thanh liêm chánh trực. Nhưng ai muốn được việc thì đừng đi ngõ lớn mắc bảng cấm hối lộ, mà phải đi ngõ sau, tìm bà lớn là "hảo tai".

Quan liền ghi số xe, về dinh truyền bắt người phu xe tống ngục.

Trước vụ người phu xe, lại có chuyện dân làng Đông Lương huyện Phù Cát cũng vì chỉ trích quan tỉnh nên bị bắt giam cả làng. Vợ con đến khóc xin đêm ngày mà vẫn chưa được thả. Nhân hai vụ đó, quan Bố làm bài "Ký Cốc Xa" (xe kéo tay, chạy kêu cọt kẹt) rằng:

Sanh nhai ký cốc nhất xa hành.
Hưu huyết quan gia lãng phẩm bình.
Bất ký Đông Lương đương nhật sự,
Thê hiền nhi khốc đáo tàn canh.

Nghĩa là:

Làm ăn cút kít tay xe,
Miệng mồm khuyên hãy kiêng dè việc quan.
Đông Lương mang vạ cả làng,
Vợ con kêu khóc ngày tàn lại đêm.

Không rải truyền đơn, không đăng báo chí, thế mà mỗi khi thơ quan Bố vừa làm ra thì tất cả nhân viên ty, tào đều biết, rồi không mấy chốc bay khắp ra cả thành thị thôn quê. Quan Tổng đốc rất căm và để trả thù, quan làm một câu đối Nôm, cho người gởi đến quan Bố, rằng:

"Sóng Âu hải tràn ngang, tràn Hương Cảng, tràn Hoành tân, tràn Mã Lịp Nhĩ Sơn, coi như tuồng dạ sắt gan đồng, một mực giữ gìn dân với nước;

Gió Nam Phong thổi ngược, thổi hường lô, thổi binh bộ, thổi Bàn thành cụ Bố, quen những thói vào luồn ra cúi, đôi đường chen chúc lợi và danh".

Thật là "ăn miếng trả miếng". Miếng nào cũng cay.

Không phải thành Bình Định đều đón tiếp những vị quan như hai họ Nguyễn họ Vương.

Trước đó, vào khoảng 1925, 1926, thành Bình Định có quan Tổng đốc rất khí khái. Đó là tiến sĩ Nguyễn Đình Hiến.

Lúc bấy giờ chí sĩ Đồng Sỹ Bình bị bắt giam tại thành Bình Định. Quan Tổng đốc đối xử hết sức tử tế, cơm nước đều do người nhà của quan nấu dọn. Những lúc rỗi rảnh, ngoài giờ làm việc, quan thường đến nơi giam cầm hoặc vời chí sĩ lên tư dinh bàn luận văn chương và thế sự. Quan Tổng đốc Nguyễn Đình Hiến phục chí sĩ Đồng Sỹ Bình chẳng những vì khí tiết mà còn vì văn chương, vì chí sĩ chẳng những giỏi bên Pháp văn (vì là một thư ký tòa sứ) mà lại rất giỏi bên Hán tự. Những tờ khai của chí sĩ toàn bằng Hán văn, mà hễ đặt bút là viết thao thao bất tuyệt. Quan Tổng đốc mỗi lần đọc lời khai là vỗ vế khen "hay!hay!" và có lần cao hứng cầm bút son khuyên đỏ cả tờ khai. Đến khi cơn hứng tàn, phải năn nỉ Đồng Sỹ Bình chép lại. Viên Công sứ Quy Nhơn biết được thái độ Nguyễn Đình Hiến đối với Đồng Sỹ Bình liền khởi mật thư khiển trách, song cụ Hiến coi như không. Sau Công sứ Pháp sợ quan Tổng đốc tìm cách tha nhà chí sĩ, bèn xin triều đình Huế rút cụ về kinh…

Đối với dân, cụ Nguyễn Đình Hiến cũng rất chiếu cố, những việc kiện cáo đều được xét xử công minh, việc an ninh trật tự đều được lưu ý. Cho nên cụ đi rồi, mà phần đông nhân sĩ Bình Định vẫn luôn luôn nhắc nhở.

Rồi, trước khi chiến tranh bùng nổ trên đất nước Việt Nam mấy năm, cơ quan hành chánh tỉnh dời xuống Quy Nhơn, giao thành Bình Định cho phủ lỵ An Nhơn đóng lỵ sở.

Cơ quan tỉnh dời xuống Quy Nhơn trong thời kỳ ông Nguyễn Hy, con ông Nguyễn Thân làm Tổng đốc Bình Định (khoảng Giáp Tuất-Ất Hợi, tức 1934, 1935).

Nghe đồn rằng: Khi ông Nguyễn Hy vừa đến nhậm sở thì liền mấy đêm nằm thấy một chiếc xe chở một đùm ruột lòng thòng đi qua lại trước mặt. Tỉnh dậy thì dường nghe tiếng kêu khóc ở quanh dinh, liền mời thầy bàn đến bàn. Thầy bàn giật mình, bẩm:

- Đây là hồn Bá hộ Huệ hiện về.

Đoạn kể lại câu chuyện Nguyễn Thân giết Bá hộ Huệ, và nói:

- Xe chở đùm ruột là chữ xa và chữ tâm. Hai chữ này ghép lại thành chữ Huệ. Như thế là Bá hộ Huệ hiện hồn về chực báo oán.

Nguyễn Hy sợ hãi không dám ở nơi lỵ sở, chiều chiều làm việc xong xuống ngủ ở Quy Nhơn, rồi nhân khí hậu ở thành Bình Định không tốt, thường sanh bệnh sốt rét, bèn mượn cớ xin triều đình Huế cho dời cơ quan xuống Quy Nhơn. Nghĩ rằng tòa sứ và tỉnh ở cạnh bên, thuận tiện cho công việc cai trị, nên triều đình Huế chấp thuận.

Từ ấy thành Bình Định trở thành phủ lỵ An Nhơn.

Và những khi khách du quan đi ngang qua phạm vi thành Bình Định, nhìn thấy lầu cửa đông cũ kỹ, không khỏi nhớ đến hai nhà thơ sanh trưởng ở Bình Định và đã dùng tòa lầu cửa đông làm lầu thơ: Chế Lan Viên và Yến Lan.

Chế Lan Viên với tập Điêu tàn làm lúc mới 17 tuổi (1937) và tập Vàng Sao xuất bản năm 1942, đã làm cho làng văn thơ Việt Nam lưu tâm đến Bình Định.

Và Yến Lan, một đợt sóng thứ hai làm vang dội tên Bình Định bằng bài thơ Bình Định sau đây:

Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt,
Đàng chờ xe, sông nước ước mong thuyền!
Tịch dương liễu không biết mình đang biếc
Tương tư trời, tương tư nhạc triền miên…
Mây nổi đó nhưng hồn chừng viễn xứ,
Nguyệt cô liêu trắng mộng hồ xa nao?
Xe lỗi hẹn với người trong lữ thứ,
Trường hận thuyền muôn dặm cũng hư hao.
Ôi Bình Định hương phong chừng cách biệt,
Nhưng bâng khuâng trong bất hạnh sương hoa,
Nhà ngơ ngẩn những tường vôi keo kiết,
Nam quách sầu, đông phố quạnh, tây môn xa…!
Cây lặng lẽ vui làm bầy hải đảo,
Thuyền bồ câu nghiêm buồm trắng trôi ven.
Tăm chiêu mộ nổi trên dòng nước đạo,
Rượu ân tình Bình Định xứ lên men.
Ôi Bình Định tự thành cao trao gửi,
Buổi xế tà qua mấy cửa song xanh:
Nơi đã đọng những vũng đàn lạnh đợi
Của trăng gầy, gió lụy xuống mong manh.
Nhà thiêm thiếp khổ trong quầng nắng nhạt
Nhớ thương từ vườn chuối nuối vương đưa
Giấc Trang Tử đêm vầy theo hội hát,
Cuối đôi làng xam xám dệt tơ mưa.
Đây tôi sống trong thanh nghiêm thánh thất:
Đèn lưu ly hao sáng mộng tràn đầy.
Lan can đỏ xuống lần từng bậc bậc,
Lòng cuộn dần bậc bậc khói hương xây.
Hồn tôi loãng trên bệ vàng thếp chảy,
Cùng hồn trưa quấn quít lấy giao lân.
Tám phương bạn chợp hàng mi mộng thấy
Thái bình trang vàng rộn lá thu phân.
Kiếp tòng bá có xanh vì xứ sở,
Chớ quăng mình thêm nức nở hồn tôi.
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi.
Trời Bình Định có thương em lẻ chiếc?
Em nằm thương xanh biếc của trời buồn!
Trên đài trán thơ hằng lên vọng nguyệt,
Trăng còn nương thuyền nhạc khuất trong sương.
Hoa tư tưởng phân thân chiều gió trải,
Trời Giang Nam hồ hải nói trong tâm.
Ôi Bình Định ngươi nằm trong mãi mãi…
Đĩa dầu vơi tim cháy ngọn âm âm…

-------------------------------

>> Đọc tiếp: Nước non Bình Định - phần cuối

Văn hóa - Nghệ thuật - Lịch sử - Địa lý
  1. Công thức 5W + H & kỹ thuật viết một bản tin, bài báo
  2. Cần lắm những Lục Vân Tiên ra tay nghĩa trượng cứu Kiều Nguyệt Nga (10/2016)
  3. Tin buồn: Cụ Rùa Hồ Gươm - linh vật quốc gia đã qua đời & chuyện Lê Lợi trả gươm báu (1/2016)
  4. Bộ tranh dân gian Đông Hồ 
  5. Xem tranh dân gian gà Đông Hồ, đón xuân Đinh Dậu (2017)
  6. Đặc trưng ba miền trong dịp Tết
  7. Phu Văn Lâu bất ngờ đổ sập (5/2014)
  8. Lời điếu cho một cây cầu (10/2015)
  9. Thành Đồ Bàn
  10. Chùa Thập Tháp - nhớ về 10 ngôi tháp cổ và kinh đô xứ Chiêm Thành xưa
  11. Cao nguyên đá Đồng Văn
  12. Cây Pơmu cổ thụ 1.300 năm tuổi trên núi Lang Biang
  13. Quần thể 725 cây pơ mu ở Quảng Nam được công nhận là "cây di sản Việt Nam" (7/2015)
  14. Kỹ thuật trồng cây cảnh trong nước
  15. Hướng dẫn nuôi cá cảnh trong hồ không chết
  16. Cá chọi đẹp và dễ nuôi làm cảnh
  17. Bộ VHTT&DL bác đề nghị xây dựng cáp treo Sơn Đoòng của Bộ Xây dựng (11/2014)
  18. Côn Đảo: Top 10 hòn đảo “bí ẩn và tốt nhất thế giới”
  19. Đi “phượt” trên đảo ngọc Phú Quốc
  20. Núi Tà Cú: khu thiên nhiên kỳ thú và pho tượng phật nằm lớn nhất Đông Dương
  21. Bộ tranh Đông Dương cuối thế kỷ 19 đẹp như cõi mơ do họa sỹ Pháp vẽ
  22. Bộ ảnh nghệ thuật: Thiếu nữ & Yếm
  23. Thiếu nữ và sông nước miền Tây huyền ảo trong tranh Đặng Can
  24. Tranh xé dán Chiêu Đồng Lâm
  25. Họa sỹ Thái Lan vẽ tranh về Việt Nam gây xôn xao Facebook
  26. Art nude – Ảnh khỏa thân nghệ thuật của Dương Quốc Định
  27. Bộ tranh thiếu nữ đẹp mê hoặc và huyền bí của Feng Chiang Jia
  28. Bộ tranh màu nước về Chuối
  29. Bộ tranh chim Công tuyệt đẹp của họa sỹ Trung Quốc
  30. Bộ sưu tập xe Vespa cổ