Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016

Thành Cát Tư Hãn và chuyện văn bản dài, ngắn

Trần Hồng Phong 

(Giải trí cuối tuần) - Mục Sách kỳ này, tôi giới thiệu cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp lừng danh Anh hùng xạ điêu của nhà văn Kim Dung. Hiện nay, thật dễ dàng tìm mua cuốn Anh hùng xạ điêu ở bất kỳ nhà sách nào, nhưng sau năm 1975 nó từng là sách cấm (văn hóa phẩm đồi trụy!). Cuốn sách của tôi (chỉ một cuốn, quyển V) thật sự thuộc loại hàng hiếm!, vì được xuất bản từ năm 1964 ở miền Nam bởi nhà xuất bản Hương Hoa, dịch giả: Phan Canh Trung và Đà Giang Tử. Tức là đã cách nay trên 50 năm, chỉ sau vài năm kể từ khi tác phẩm ra đời (Kim Dung sáng tác Anh hùng xạ điêu năm 1957). 

<< - Thành Cát Tư Hãn, người đã xây dựng nên đế quốc Mông Cổ hùng mạnh (ảnh minh họa)

Anh hùng xạ điêu là cuốn đầu tiên trong Xạ điêu tam bộ khúc (gồm Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ và Ỷ thiên đồ long ký), với hai nhân vật chính là cô gái vô cùng thông minh xinh đẹp Hoàng Dung cùng "chàng ngốc" Quách Tĩnh lừng danh bởi bộ chưởng pháp Hàng long thập bát chưởng do Cửu chỉ thần cái Hồng Thất Công truyền dạy. Nói về cái hay, điều thú vị trong Anh hùng xạ điêu thì nhiều lắm, từ sự lãng mạn, hy sinh và cả khốc liệt trong tình yêu, cho đến thú vui chơi tao nhã cầm kỳ thi họa, các bí kíp võ công độc đáo lợi hại, cho đến những thông điệp lớn lao hơn như tình yêu tổ quốc, nghĩa thầy trò ...vv.


Cặp đôi Quách Tĩnh - Hoàng Dung trong Anh hùng xạ điêu

Nhưng trong bài viết này, tôi chỉ muốn đàm đạo, hay chính xác hơn là kể lại, về một chuyện nhỏ xíu vụn vặt, nhưng cũng khá thú vị, nói lên tính cách, bản ngã của một nhân vật lừng lẫy có thật ngoài đời. Đó là Thành Cát Tư Hãn (Thiết Mộc Chân), người đứng đầu và tạo nên đế chế Mông - Nguyên, một đế quốc lừng lẫy nhất trong lịch sử nhân loại. Mà chính nước Việt Nam của chúng ta, thời nhà Trần, cũng từng chiến đấu chống lại sự xâm lăng của giặc Nguyên (với ba lần chiến thắng. Tại thời điểm này, Thành Cát Tư Hãn đã qua đời).

Đó là chuyện Thành Cát Tư Hãn trong phong cách và chỉ đạo soạn thảo văn bản đối ngoại - khá thú vị. Tất nhiên việc này chưa chắc là có thật, mà có thể do Kim Dung tưởng tượng ra trong tiểu thuyết của mình.

Đó là ở phần cuối cuốn truyện, trên thảo nguyên Mông Cổ. Lúc này Thành Cát Tư Hãn đã là Đại Hãn, thống lĩnh toàn Mông Cổ và đang có ý định tấn công xuống phía nam (Trung Nguyên, Trung Quốc). Tại Trung Nguyên đang do nước Kim (một đế quốc thời đó, nay thuộc Trung Quốc) xâm chiếm. Đề tiến xuống phía nam đánh Trung Nguyên, đại quân của Thành Cát Tư Hãn bắt buộc phải đi qua nước Hoa Thích Tử Mô, vua  là Ma Ha Mạt. Thế nên Thành Cát Tư Hãn đã cử sứ quân sang nước Hoa Thích Tử Mô xin nhờ đường. Thế nhưng thay vì đồng ý cho mượn đường, vua Ma Ha Mạt đã làm nhục sứ thần của Mông Cổ.

Dưới đây là trích đoạn trong tác phẩm, khi đoàn người đưa tin cấp báo sự việc về cho Thành Cát Tư Hãn. Lúc này Quách Tĩnh cũng đang ngồi tâm sự với công chúa Hoa Tranh (con Thành Cát Tư Hãn):

"Qua hồi lâu, chỉ thấy bốn con ngựa từ phía tây phóng mau tới lướt qua cạnh hai người, phóng thẳng về hướng kim trướng. Một con ngựa phi tới cách kim trướng vài mươi trượng đột nhiên ngã lăn ra không đứng lên được nữa, rõ ràng đã chạy quá sức, kiệt lực mà chết. Người cưỡi ngựa từ dưới đất bò dậy, không nhìn tới con ngựa chết một cái, co chân chạy mau về phía kim trướng.

Chỉ qua giây lát, trong kim trướng có mười người cầm tù và chạy ra, chia ra quay về bốn phía đông tây nam bắc, tu tu tu tu thổi lên một hồi.

Quách Tĩnh biết đây là hiệu lệnh triệu tập chư tướng khẩn cấp của Thành Cát Tư Hãn, bất kể là vương tử đại tướng, nếu đại hãn đếm tới mười hồi tù và mà vẫn chưa tới thì sẽ lập tức bị chém đầu, quyết không tha thứ, lúc ấy vội kêu lên:

- Đại hãn gọi tướng!

Không kịp nói nhiều với Hoa Tranh, chạy mau về phía kim trướng, chỉ nghe bốn phương tám hướng tiếng vó ngựa vang lên rầm rập.

Quách Tĩnh vào tới trướng thì Thành Cát Tư Hãn đã gập ba ngón tay, khi y gập tới ngón tay thứ tám thì tất cả các vương tử đại tướng đều đã tới đông đủ chỉ nghe y cao giọng nói:

- Gã cẩu vương Ma Ha Mạt kia có các vương tử nhanh nhẹn thế này không? Có các tướng quân anh hùng thế này không?

Chư vương chúng tướng đồng thanh trả lời:

- Không có.

Thành Cát Tư Hãn đấm ngực nói:

- Các ngươi xem, đây là vệ binh đi theo sứ giả mà ta phái tới Hoa Thích Tử Mô, thằng cẩu vương Ma Ha Mạt kia làm gì với đám tôi tớ trung thành của ta rồi?

Các tướng đưa mắt nhìn theo ngón tay của đại hãn, chỉ thấy mấy người Mông Cổ mặt mũi sưng vù, râu bị đốt trụi. Bộ râu là sự tôn nghiêm của vô sĩ Mông Cổ, chỉ cần bị người ta đụng vào là không gì nhục nhã bằng, huống chi là đốt sạch?

Chư tướng nhìn thấy đều nổi giận chửi mắng ầm lên.

Thành Cát Tư Hãn quát:

- Hoa Thích Tử Mô tuy nước lớn quân nhiều nhưng chẳng lẽ chúng ta sợ à? Chúng ta vì nhất quyết đánh bọn chó Kim nên mới hết sức nhường nhịn y. Truật Xích con ta đâu, ngươi nói với mọi người xem gã cẩu vương Ma Ha Mạt kia đối phó với chúng ta thế nào?

Truật Xích bước lên một bước cao giọng nói:

- Năm ấy phụ vương sai con đi chinh phạt bọn người Miệt Nhi Khất Thích đáng chết, đắc thắng khải hoàn. Gã cẩu vương Ma Ha Mạt kia cũng phái đại quân tới đánh người Miệt Nhi Khất Thích. Hai bên gặp nhau, hài nhi sai sứ giả qua thông hiếu, nói phụ vương muốn làm bạn với Hoa Thích Tử Mô. Gã cẩu vương râu đỏ ấy nói: Tuy Thành Cát Tư Hãn bảo các ngươi không đánh ta nhưng Chúa trời lại sai ta đánh các ngươi. Kế đó đánh nhau một trận ác liệt, chúng ta thắng trận, nhưng vì quân địch đông gấp mười nên nửa đêm chúng ta ngấm ngầm rút lui.

Bác Nhĩ Hốt nói:

- Tuy như thế nhưng đại hãn vẫn đối xử với gã cẩu vương ấy rất kính trọng. Thương đội của chúng ta phái đi, hàng hóa bị gã cẩu vương ấy cướp thương nhân bị gã cẩu vương ấy giết. Lần này phái sứ giả tới thông hiếu, gã cẩu vương ấy lại nghe theo sứ giả của cẩu vương nước Kim là Hoàn Nhan Hồng Liệt giết chết sứ giả trung dũng của đại hãn, giết mất một nửa vệ binh của sứ giả, một nửa thì đốt râu đuổi về.

Thành Cát Tư Hãn quát:

- Bọn chó Kim liên kết với Hoa Thích Tử Mô muốn hai đầu giáp công chúng ta, chúng ta có sợ không?

Chúng tướng đồng thanh nói:

- Đại hãn của chúng ta thiên hạ vô địch. Người đưa chúng tôi tới đánh Hoa Thích Tử Mô, phá thành trì của họ, đốt nhà cửa của họ, giết sạch đàn ông của họ, bắt hết đàn bà và súc vật của họ về!

Thành Cát Tư Hãn quát:

- Phải bắt sống Ma Ha Mạt, phải bắt sống Hoàn Nhan Hồng Liệt.

Các tướng đồng thanh reo hò, đèn lửa trong trướng bị tiếng quát không ngớt lay động.

Thành Cát Tư Hãn rút bội đao ra, chém nhứ trước mặt một nhát, bước ra khỏi trướng, nhảy lên lưng ngựa. Các tướng túa ra, lên ngựa phi phía sau. Thành Cát Tư Hãn giục ngựa chạy vài dặm, phóng lên một gò núi. Các tướng biết y đang ngẫm nghĩ một mình, đều đứng lại dưới chân gò, làm thành một vòng tròn quanh gò.

Thành Cát Tư Hãn thấy Quách Tĩnh đứng cách mình không xa bèn gọi:

- Hài tử, ngươi lại đây.

Quách Tĩnh giục ngựa phóng lên gò. Thành Cát Tư Hãn nhìn ra đèn lửa như sao trong doanh trại trên thảo nguyên, chỉ roi nói:

- Hài tử, trước kia chúng ta bị Tang Côn và Trác Mộc Hợp bao vây trên núi, ta từng nói với ngươi mấy câu, ngươi còn nhớ không?

Quách Tĩnh nói:

- Nhớ Đại hãn nói người Mông Cổ chúng ta có bấy nhiêu hảo hán, chỉ cần mọi người không tàn sát lẫn nhau, kết thành một khối thì chúng ta có thể biến thế giới này trở thành bãi chăn súc vật của người Mông Cổ.

Thành Cát Tư Hãn vung roi ngựa, vút một tiếng đánh trong không khí một nhát, quát lớn:

- Không sai, bây giờ người Mông Cổ đã kết thành một khối, chúng ta đi bắt Hoàn Nhan Hồng Liệt.

Thành Cát Tư Hãn nói:

- Hoa Thích Tử Mô kia khoe khoang là có trăm vạn tinh binh, ta xem ra cũng phải có tới sáu bảy mươi vạn. Chúng ta chỉ có hai mươi vạn quân, phải giữ lại vài vạn đánh bọn chó Kim. Mười lăm vạn địch với sáu bảy mươi vạn của họ, ngươi nói có thắng được không?

Quách Tĩnh về việc chiến trận thì không biết gì, nhưng tuổi trẻ hào hùng, xưa nay không trốn tránh hoạn nạn, nghe đại hãn hỏi như thế, bèn hiên ngang nói:

- Được!

Thành Cát Tư Hãn nói:

- Nhất định là được? Hôm trước ta nói sẽ đối xử với ngươi như con ruột, Thiết Mộc Chân đã nói thì trước nay không bao giờ quên. Ngươi theo ta tây chinh, bắt Ma Ha Mạt và Hoàn Nhan Hồng Liệt rồi trở về sẽ thành thân với con gái ta.

Câu ấy chính hợp ý Quách Tĩnh, lúc ấy y luôn miệng vâng dạ.

Thành Cát Tư Hãn giục ngựa xuống núi, quát:

- Điểm binh?

Đám thân binh thổi tù và, Thành Cát Tư Hãn phóng ngựa mau trở về. Dọc đường chỉ thấy bóng người loang loáng, ngựa chiến phi mau nhưng không nghe một tiếng người nào. Khi y về tới trước kim trướng đã có ba vạn người ngựa xếp hàng chỉnh tề trên thảo nguyên, ánh trăng soi lên từng dãy trường đao, khắp thảo nguyên ánh bạc chớp chớp".

Và dưới đây là đoạn tả Thành Cát Tư Hãn sai thư ký viết chiến thư (ngày nay có thể xem như là một loại văn bản đối ngoại giữa các quốc gia, công hàm).

"Thành Cát Tư Hãn bước vào kim trướng, cho gọi thư ký bảo viết chiến thư.

Viên thư ký viết một lá thư dài trên tấm da dê, quỳ xuống cao giọng đọc cho đại hãn nghe:

- Trời lập trẫm làm đại hãn của các tộc, mở mang đất đai vạn dặm, tiêu diệt vô số quốc gia, từ xưa những người có đức nghiệp chưa có ai được như trẫm.

Trẫm một phen nổi giận lôi đình, các ngươi có thể chống sao? Quốc tộ của các ngươi mất hay còn là quyết định ở hôm nay, nên suy nghĩ cho kỹ, nếu không dâng thành nộp cống thì sẽ thấy đại quân Mông Cổ... .

Thành Cát Tư Hãn càng nghe càng tức giận, nhấc chân phóng luôn một đá, đá viên thư ký râu bạc lăn lông lốc, chửi:

- Ngươi viết thư cho ai? Thành Cát Tư Hãn lại phải nói nhiều với gã cẩu vương ấy như thế à?

Rồi giơ roi ngựa lên đập túi bụi vào đầu vào mặt y hơn mười roi, quát:

- Ngươi nghe đây, ta đọc thế nào thì ngươi viết thế ấy.

Viên thư ký run rẩy bò dậy, đổi tấm da dê khác, quỳ xuống đất, nhìn nhìn miệng Thành Cát Tư Hãn.

Thành Cát Tư Hãn vén rèm nhìn ra ngoài, nhìn ba vạn tinh binh ngoài trướng xuất thần một lúc, hạ giọng nói:

- Viết lần này, chỉ cần sáu chữ.

Ngừng một lúc cao giọng đọc:

- Ngươi muốn đánh, thì ra đánh!

Viên thư ký giật mình, nghĩ thầm quốc thư thế này quả thật không có lễ phép gì, nhưng trên đầu trên mặt vừa bị đánh một trận vẫn còn đau rát lên, làm sao dám nói một câu, lập tức theo lời viết sáu chữ đại tự lên tấm da dê. Thành Cát Tư Hãn nói:

- Đóng kim ấn lên, gởi đi lập tức.

Mộc Hoa Lê bước lên dập đầu, phái một viên Thiên phu trưởng đem quân đưa thư đi.

Các tướng biết trong điệp vãn của đại hãn chỉ viết có sáu chữ, đều thấy phấn chấn, nghe tiếng vó ngựa của sứ giả xa dần trên thảo nguyên, đột nhiên không hẹn mà cùng quát lên:

- Ngươi muốn đánh, thì ra đánh.

Ba vạn quân sĩ ngoài trướng cũng đồng thanh hò reo:

- Ha hô, ha hô!

Đó là tiếng reo hò của kỵ binh Mông Cổ lúc xông trận tiếp chiến. Đám ngựa chiến nghe chủ nhân hò hét cũng lập tức hí vang. Trong chớp mắt trên thảo nguyên vang dội ầm ầm, tựa hồ đang có một trường đại chiến".

.................

Sau khi gửi chiến thư như trên,

Thành Cát Tư Hãn sai chư tướng quân sĩ lui về, một mình ngồi trên ngai vàng xuất thần. Chiếc ngai vàng này lấy được lúc công phá Trung đô nước Kim, lưng đúc hình con rồng uốn khúc giữ hạt châu, mỗi tay vịn chạm một con mãnh hổ, vốn là bảo tọa của hoàng đế nước Kim. Thành Cát Tư Hãn nghĩ ngợi trầm tư, nhớ tới những gian nan nguy hiểm thời thanh niên, nhớ tới mẹ tới vợ, bốn con trai và con gái, nhớ tới vô số phi tần xinh đẹp, nhớ tới quân đội bách chiến bách thắng, tới đế quốc rộng lớn mênh mông, tới cường địch sắp gặp mặt.

Y tuy đã già nhưng tai vẫn còn rất thính, chợt nghe xa xa có tiếng một con ngựa hí lên thê thảm rồi đột nhiên im bặt. Y biết đó là một con ngựa già mắc bệnh không chữa được, chủ nhân không nỡ nhìn thấy nó đau khổ nên một đao chém chết. Y chợt nghĩ: - Mình đã già rồi, lần này xuất chinh, liệu còn sống mà trở về không? Nếu mình mất mạng trên chiến trường, bốn đứa con trai tranh nhau chức đại hãn, há chẳng phải là long trời lở đất sao? Ờ, chẳng lẽ mình lại không bao giờ chết à?

Bất kể anh là đại anh hùng đánh đâu thắng đó không ai không sợ, nhưng khi tinh lực suy dần, nghĩ tới chữ chết trong lòng cũng không khỏi có cảm giác run sợ.

Y nghĩ:

- Nghe nói ở phương nam có một bọn người gọi là đạo sĩ, có thể dạy người ta thành tiên, trường sinh bất lão, rốt lại không biết đúng không?

Bèn vỗ tay hai tiếng gọi một tên Tiễn đồng vệ sĩ, sai đi gọi Quách Tĩnh vào trướng. Giây lát Quách Tĩnh đã tới, Thành Cát Tư Hãn hỏi tới chuyện ấy. Quách Tĩnh nói:

- Trường sinh thành tiên thì hài nhi không biết là thật hay giả, nhưng nói luyện khí thổ nạp, kéo dài tuổi thọ thì quả là có thật.

Thành Cát Tư Hãn cả mừng, nói:

- Ngươi biết những người ấy à? Mau tìm một người tới gặp ta.

Quách Tĩnh nói:

- Loại kẻ sĩ có đạo ấy nếu tùy tiện mời gọi thì nhất định họ không tới đâu.

Thành Cát Tư Hãn nói:

- Không sai, ta phái một viên đại quan đem lễ vật mời họ lên bắc. Ngươi nói lần này nên mời ai?

Quách Tĩnh nghĩ thầm: - Huyền môn chính tông trong thiên hạ thì có phái Toàn Chân. Trong Toàn Chân lục tử thì Khưu đạo trưởng võ công cao nhất, lại rất hăng hái, hoặc giả có thể mời được. Lúc ấy bèn nói tên họ Trường Xuân tử Khưu Xử Cơ.

Thành Cát Tư Hãn cả mừng, lập tức gọi viên thư ký vào, nói qua câu chuyện bảo y thảo chiếu. 

Viên thư ký mới rồi bị y đánh một trận, ngẫm nghĩ hồi lâu, viết rằng: “Trẫm có việc, ngươi tới ngay”, học lối lễ pháp của đại hãn, trên chiếu thư cũng chỉ viết sáu chữ, tự cho rằng lần này nhất định sẽ được xứng chỉ. Nào ngờ Thành Cát Tư Hãn vừa nghe thấy lại cả giận, lại vung roi đánh túi bụi, chửi:

- Ta nói với bọn cẩu vương như thế chứ lại có thể nói với kẻ sĩ có đạo như thế à? Phải viết thật dài, viết cho khiêm tốn lễ độ.

Viên thư ký phủ phục dưới đất, thảo chiếu rằng:

- Trời ghét Trung nguyên kiêu sa quá đáng, trẫm ở sa mạc thương xót dân đen, theo chất phác thích yên lành, bỏ xa xỉ theo kiệm ước, mỗi manh áo mỗi miếng ăn đều cùng chia sẻ với bọn chăn trâu nuôi ngựa. Coi nhân dân tựa con đỏ, nuôi kẻ sĩ như anh em, mưu vốn hòa, ơn vốn chứa. Luyện muôn quân lấy thân yêu làm trước, gặp trăm trận không hèn nhát lùi sau. Trong bảy năm thành đại nghiệp, giữa lục hợp dựng cơ đồ. Không phải trẫm có đức, vốn là Kim bất nhân, nhờ thế được trời phù hộ, lên ngôi chí tôn. Nam liền Triệu Tống, bắc giáp Hồi Hột, đông hạ tây di thảy đều xưng thần. Nghĩ nước Thuyền Vu ta ngàn năm trăm đời lại đây chưa từng được như thế. Nhưng trách nhiệm thì to, trị bình còn thiếu, vả lại đóng thuyền làm chèo, còn mong qua sông, tìm hiền chọn tài, muốn an thiên hạ. Trẫm từ lên ngôi đến nay chuyên cần chính sự nhưng ngôi Tể tướng còn chưa gặp người. Nghe nói thầy Khưu tiên sinh rõ đời giữ mực, học rộng biết nhiều, hiểu sâu đạo lý, đạo đầy đức sáng, ôm phong thái kẻ quân tử, có tiết tháo bậc thượng nhân, ở trong hang núi, náu thân ẩn hình. Phát dương giáo hóa tổ tông, khiến kẻ sĩ có đạo ùn ùn theo về không sao kể xiết Từ sau cơn binh lửa, lại biết tiên sinh còn ẩn cư ở quê cũ sơn Đông, lòng trẫm vô cùng ngưỡng mộ.

Viên thư ký viết tới đó, ngẩng đầu hỏi:

- Đã đủ dài chưa?

Thành Cát Tư Hãn cười nói:

- Một mớ chữ như thế thì đủ rồi. Ngươi viết thêm là ta phái đại quan Lưu Trọng Lộc người Hán đi đón y, xin y nhất định phải tới.

Viên thư ký lại viết:

- Há chẳng nghe việc chung xe trên sông Vị, ba bận tới lều tranh? Chỉ vì sông núi xa xôi, cho nên đón rước thất lễ. Trẫm chỉ chừa chỗ ngồi nghiêng, trai giới tắm gội, chọn sai quan cận thị Lưu Trọng Lộc mang ngựa khỏe xe bền, không nề ngàn dặm, kính mong tiên sinh tạm khuất gót tiên, không vì sa mạc xa thẳm ngại ngần, hoặc vì việc thương dân lo đời, hoặc dạy trẫm bảo thân giữ mạng. Trẫm đợi chờ tiên giá, chỉ mong tiên sinh sau lúc coi rẻ chỉ ừ một tiếng là được. Nay tỏ ý trẫm trong muôn một, viết rõ nơi chiếu chương, rất mong tiên sinh đã rõ đầu mối đạo lớn, điều thiện không gì không nên làm, há làm trái nguyện vọng của chúng sinh sao? Vì vậy có chiếu tỏ ý, mong thầy hiểu cho.

Thành Cát Tư Hãn nói:

- Được, cứ thế mà làm Rồi thưởng cho viên thư ký năm lượng vàng, lại sai Quách Tĩnh viết một lá thư khẩn khoản mời Khưu Xử Cơ ngay hôm sau phái Lưu Trọng Lộc phụng chiếu xuống nam". 

Qua hai văn bản đối ngoại như trên, có thể thấy Thành Cát Tư Hãn tuy rất ngang tàng, nhưng cũng vô cùng thông minh, sắc xảo. Ông biết nêu rõ quan điểm của mình một cách uyển chuyển, đạt mục đích. Vai trò của viên thư ký chỉ là kẻ giúp việc, thứ yếu.

Đối với giặc, thì không cần thiết phải dong dài, lý sự. Đối với kẻ sỹ, thì biết uyển chuyển, "nịnh nọt" một chút chả sao. Kết quả là cả hai văn bản đều đạt được mục đích mà Đại Hãn mong muốn.

Cái hay của Thành Cát Tư Hãn là huy động được tinh thần đoàn kết toàn dân tộc Mông Cổ, kỷ luật cực kỳ nghiêm minh. Không có chuyện cả nể đồng chí, con ông cháu cha. Tất cả đều rõ ràng, minh bạch, công minh - đúng pháp luật. Chính vì vậy, đã xây dựng được một đế quốc Mông Cổ hùng mạnh và vỹ đại.

Sở dĩ tôi nhớ đến câu chuyện này, là vì tôi thấy hiện nay ở Việt Nam trong việc xử lý công việc hành chính nhiều khi rất lòng vòng, dong dài. Văn bản ban hành thường quá dài, nhiều nội dung không cần thiết, lặp lại những điều mà ai cũng đã biết. Chẳng hạn như kể lể công trạng, nêu nguyên nhân mục đích, cơ sở lý luận này nọ một cách không cần thiết, thừa thãi ... Trong khi đó giải pháp hay mục tiêu đề ra thì lại quá cao như ở ... trên trời. Hoàn toàn không khả thi, không sát thực tế, vượt ngoài khả năng, thậm chí là duy ý chí, lạc hậu. Do vậy các văn bản vừa không có sức thuyết phục, mà cũng chả ai tin. Chán phèo phèo!




Bìa 2 và 3 cuốn sách của tôi. Thấy có giới thiệu cuốn Hồng Hoa Kiếm mà không biết là cuốn nào? Việt Kiếm nữ chăng?
.................

Thành Cát Tư Hãn (Thiết Mộc Chân) và đế quốc Mông Cổ

Thành Cát Tư Hãn (1162 - 1227), là Hãn vương của Mông Cổ và là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng đông bắc châu Á năm 1206.

Là một nhà lãnh đạo lỗi lạc và quan trọng của lịch sử thế giới, ông được người Mông Cổ dành cho sự tôn trọng cao nhất, như là một vị lãnh đạo đã loại bỏ hàng thế kỷ của các cuộc giao tranh, mang lại sự ổn định về chính trị và kinh tế cho khu vực Á-Âu trong lãnh thổ của ông, mặc dù đã gây ra những tổn thất to lớn đối với những người chống lại ông. Cháu nội của ông và là người kế tục sau này, đại hãn Hốt Tất Liệt đã thiết lập ra triều đại nhà Nguyên của Trung Quốc. 

Thời thơ ấu của Thiết Mộc Chân rất khó khăn cơ cực. Khi ông lên 9 tuổi, cha ông đã đưa ông đến gia đình vợ (Bột Nhi Thiếp) tương lai và ông phải sống ở đó cho đến khi đủ tuổi lấy vợ là 12 tuổi. Một thời gian ngắn sau đó cha ông bị đầu độc bởi bộ lạc Tháp Tháp Nhi (Tartar) láng giềng trên đường trở về nhà và Thiết Mộc Chân sau đó trở thành thủ lĩnh của bộ lạc. Nhưng Bộ lạc của ông không chấp nhận ông do sự bất đồng về quyền lực và quyền lợi kinh tế. 

Trong những năm sau đó, ông và gia đình sống một cuộc đời du cư nghèo khó, sống được là nhờ các loài động vật gặm nhấm. Trong một lần đi săn bắn như vậy ông đã giết chết người anh/em cùng cha khác mẹ là Bekhter trong một cuộc tranh giành chiến lợi phẩm. Một lần khác vào năm 1182, ông đã bị những người cùng bộ lạc cũ bắt trong một cuộc tập kích và bị giam cầm với gông trên cổ. Sau đó ông trốn thoát với sự trợ giúp của những người coi ngục có cảm tình. Mẹ ông đã dạy ông nhiều bài học từ sống sót trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt của Mông Cổ tới sự cần thiết của liên minh với những người khác, những bài học này đã hình thành nên sự hiểu biết của ông trong những năm sau này về sự cần thiết của thống nhất.

Năm 16 tuổi, Thiết Mộc Chân lấy Bột Nhi Thiếp của bộ tộc Hoằng Cát Lạt (sau này là Quang Hiến hoàng hậu). Sau đó vợ ông bị bắt cóc trong một cuộc tập kích của bộ tộc Miệt Nhi Khất và ông đã nhờ bạn (sau này là kẻ thù) là Trát Mộc Hợp và người cha đỡ đầu của ông là Thoát Lý của bộ tộc Khắc Liệt để giải thoát cho vợ mình. Việc sinh đứa con đầu lòng là Truật Xích (Jochi, 1185-1226) quá sớm đã dẫn đến sự nghi ngờ của ông và Truật Xích cũng như hậu duệ của ông ta không bao giờ được coi là những người kế vị. Bên cạnh Truật Xích, Bột Nhi Thiếp còn sinh ra ba người con trai khác là Sát Hợp Đài (Chagatai, 1187-1241), Oa Khoát Đài (Ögedei, 1189-1241), Đà Lôi (Tolui, 1190-1232). Ông còn có nhiều con trai với các bà vợ khác nhưng họ không được liệt kê vào hàng kế vị, còn các con gái thì gần như không có ghi chép cụ thể nào.

Thống nhất các bộ lạc Châu Á vào khoảng năm 1200.

Vùng cao nguyên Trung Á (miền bắc và tây bắc Trung Quốc) vào khoảng thời gian của Thiết Mộc Chân (cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13) được phân chia giữa một vài bộ lạc hay liên minh, trong số đó có Nãi Man (Naiman), Miệt Nhi Khất (Merkit), Duy Ngô Nhĩ (Uyghur), Đảng Hạng (Tangut), Tatar, Mông Cổ (Mongol) và Khắc Liệt (Kerait), thường có xung đột với nhau như được chứng thực bởi những cuộc đột kích, cướp bóc, trả thù ngẫu nhiên.

Thiết Mộc Chân bắt đầu sự nghiệp của mình bằng cách liên kết với bạn của cha mình là Thoát Lý (Toghril, còn gọi là Thoát Oát Lân), một thủ lĩnh ở địa phương (có nguồn cho rằng ông là chư hầu cho Hãn vương này) được nhà Kim phong tước Hãn vương năm 1197. Mối quan hệ này ban đầu được tăng cường khi Bột Nhi Thiếp bị người Miệt Nhi Khất bắt (khoảng năm 1177 hay 1180 trước khi sinh ra Truật Xích) và Thiết Mộc Chân phải cần tới sự hỗ trợ của Thoát Lý. Đáp lại, Thoát Lý cho ông mượn 20.000 chiến binh Khắc Liệt của ông này và đề nghị ông mời cả người bạn thời thơ ấu là Trát Mộc Hợp, khi đó đang là hãn của bộ lạc Trát Đạt Lan (Jadaran). Mặc dù chiến dịch này thành công trong việc giải cứu Bột Nhi Thiếp và thất bại hoàn toàn của người Miệt Nhi Khất, nhưng nó cũng dọn đường cho sự chia rẽ giữa hai người bạn (an đáp) thời thơ ấu là Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp.

Các kẻ thù chính của liên minh Mông Cổ vào khoảng năm 1190-1200 là Nãi Man ở phía tây, Miệt Nhi Khất ở phía bắc, Đảng Hạng ở phía nam và Kim cùng người Tatar ở phía đông. Vào năm 1190, Thiết Mộc Chân cùng những người theo ông chỉ thống nhất được một lượng nhỏ người Mông Cổ. Trong các bộ lạc chiếm được, ông thực hiện việc cai trị theo cung cách khác với truyền thống của người Mông Cổ bằng cách ủy quyền cho những người xứng đáng và trung thành chứ không dựa trên quan hệ gia đình. Thiết Mộc Chân sau đó đã ban hành bộ luật bằng văn bản cho người Mông Cổ, gọi là Yassa, và ông ra lệnh phải tuân thủ bộ luật này một cách nghiêm ngặt để xây dựng tổ chức và quyền lực trong phạm vi vương quốc của mình. Như là sự khuyến khích cho việc phục tùng tuyệt đối và tuân thủ các quy tắc trong luật pháp của ông, bộ luật Yassa, Thiết Mộc Chân cam kết dành cho thần dân và binh lính sự giàu có từ các chiến lợi phẩm thu được trong tương lai. Khi đánh bại các bộ lạc thù địch, ông không ruồng bỏ binh lính của họ mà đặt các bộ lạc đó dưới sự bảo hộ của mình và hợp nhất các thành viên của các bộ lạc đó vào bộ lạc của mình. Mẹ ông còn nhận những đứa trẻ mồ côi từ các bộ lạc đó để nuôi. Những điểm mới trong chính sách của ông đã gây dựng được niềm tin và lòng trung thành từ những người bị chế ngự, làm cho Thiết Mộc Chân trở thành mạnh hơn sau mỗi chiến thắng.

Năm 1201, một kurultai do Hợp Đáp Cân cùng 11 bộ lạc khác tổ chức đã bầu Trát Mộc Hợp làm cổ nhi hãn (gur khan), một tước hiệu được những người trị vì hãn quốc Cáp Lạt Khiết Đan dùng, để liên binh tấn công Thiết Mộc Chân. Liên minh này bị liên minh giữa Thiết Mộc Chân với Thoát Lý đánh bại, Trát Mộc Hợp phải chạy sang hàng Thoát Lý.

Con trai của Thoát Lý là Tang Côn ghen tức với sức mạnh đang lên của Thiết Mộc Chân và sự thân mật của ông với cha mình. Ông này lập kế hoạch ám sát Thiết Mộc Chân. Thoát Lý, được cho là đã được Thiết Mộc Chân cứu mạng nhiều lần, lại ủng hộ con mình và không hợp tác với Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân biết được ý đồ của Tang Côn và cuối cùng đã đánh bại Tang Côn cùng những người trung thành với ông này. Một trong những giọt nước cuối cùng làm đoạn tuyệt quan hệ giữa Thiết Mộc Chân và Thoát Lý là sự từ chối của Thoát Lý năm 1202 khi Thiết Mộc Chân đề nghị cưới con gái ông ta cho Truật Xích, con trai trưởng của ông, một dấu hiệu không tôn trọng trong văn hóa Mông Cổ. Hành động này dẫn tới sự chia cắt hai bên và là điềm báo một cuộc chiến tranh sẽ nổ ra. Thoát Lý liên minh với Trát Mộc Hợp, người khi đó đã chống lại Thiết Mộc Chân; tuy nhiên mâu thuẫn bên trong giữa Thoát Lý với Trát Mộc Hợp, cộng với sự chuyển hướng của một loạt các cựu liên minh sang phía Thiết Mộc Chân đã dẫn tới thất bại của Thoát Lý. Ông này chạy tới chỗ của Thái Dương Hãn, thủ lĩnh bộ lạc Nãi Man, nhưng bị binh lính Nãi Man giết chết năm 1203. Thất bại này đã làm cho bộ lạc Khắc Liệt bị phân rã hoàn toàn.

Thành Cát Tư Hãn

Mối đe dọa trực tiếp kế tiếp đối với Thiết Mộc Chân là người Nãi Man, với Trát Mộc Hợp và những người theo ông này đã chạy tới đó tìm nơi nương tựa. Người Nãi Man đã không đầu hàng, mặc dù một bộ phận đã tình nguyện đứng về phía Thiết Mộc Chân. Trước khi Thiết Mộc Chân tấn công người Nãi Man và Trát Mộc Hợp thì thì một số tướng lĩnh của ông này đã chạy sang phía Thiết Mộc Chân, trong đó đáng chú ý có Tốc Bất Đài, sau trở thành một trong tứ khuyển nổi danh của ông. Sau một vài trận chiến, Thiết Mộc Chân đã đánh bại Thái Dương Hãn vào cuối năm 1204 và Trát Mộc Hợp bị binh lính bắt trao cho Thiết Mộc Chân.

Theo Bí sử Mông Cổ, Thiết Mộc Chân một lần nữa mong muốn duy trì quan hệ bạn bè với Trát Mộc Hợp và đề nghị ông này đứng về phía mình. Ông đã giết những kẻ bán đứng Trát Mộc Hợp vì không mong muốn có những kẻ phản trắc trong hàng ngũ. Tuy nhiên, Trát Mộc Hợp đã từ chối, nói rằng bầu trời chỉ có một mặt trời mà thôi và đề nghị được chết bằng một cái chết cao quý theo tập quán là chết không rơi máu và được đáp ứng.

Phần còn lại của bộ lạc Miệt Nhi Khất đứng về phía người Nãi Man bị Tốc Bất Đài đánh bại. Thất bại của người Nãi Man đã làm cho Thiết Mộc Chân trở thành vị chúa tể duy nhất của bình nguyên Mông Cổ, nghĩa là tất cả các liên minh hùng mạnh khác hoặc là thất bại hoặc là bị hợp nhất dưới trướng của ông.

Với nhu cầu phải bảo vệ biên giới từ các quốc gia phía nam như đế quốc Kim và Tây Hạ là những quốc gia trên địa bàn Trung Quốc ngày nay, ông đã tổ chức hệ thống của mình với sự tăng cường sức mạnh quân sự và đã không bị những người Trung Quốc, khi đó bắt đầu cảm thấy khó chịu với quốc gia mới nổi Mông Cổ dưới thời đại của Thiết Mộc Chân, đánh giá quá mức. Cuối cùng họ đã có những hành động như ngăn cản việc tiếp tế lương thực, thực phẩm đi qua Mông Cổ ngày nay. Với những phẩm chất cá nhân và ý chí mạnh mẽ, Thiết Mộc Chân cuối cùng đã thống nhất được các bộ lạc trong một hệ thống duy nhất, một nét đặc trưng vĩ đại của Mông Cổ, là đất nước có lịch sử lâu đời của những cảnh huynh đệ tương tàn và gian khó về kinh tế.

Năm 1206 Thiết Mộc Chân đã liên kết thành công các bộ lạc Mông Cổ đang bị chia rẽ và tại hội nghị Kurultai (hội đồng các thủ lĩnh Mông Cổ) ông đã được phong là Thành Cát Tư Hãn (trong tiếng Mông Cổ có nghĩa là vua của cả thế giới).

Thành lập đế chế Trung Hoa

Cùng thời điểm với hội nghị Kuriltai, Thành Cát Tư Hãn đã bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp với Tây Hạ là quốc gia bắt người Mông Cổ phải phục tùng và nộp cống phẩm hàng năm. Ông đã chiếm được một số thành trì được bảo vệ vững chắc của Tây Hạ. Năm 1209 khi hòa bình với Tây Hạ được ký kết, về thực chất ông đã thu phục được Tây Hạ, đã được vua Tây Hạ là Lý An Toàn thừa nhận là chúa tể, biến quốc gia này trở thành chư hầu chịu cống nộp cho người Mông Cổ và cung cấp binh lính cũng như hậu cần cho các chiến dịch trong tương lai của ông. Sau đó Tây Hạ cũng bị ông lật đổ (1227).

Mục đích chính của ông là xâm chiếm nhà Kim, vừa để trả thù những thất bại trước đây khi những người Mông Cổ còn thù hận lẫn nhau và giành lấy tài sản cùng sự giàu có của miền bắc Trung Quốc. Ông tuyên bố chiến tranh năm 1211, để cho nhà Kim không thể còn là sự đe dọa thường xuyên đối với Mông Cổ về lãnh thổ, tài sản ở phần biên giới phía nam. Mô hình của cuộc chiến tranh chống lại nhà Kim của người Nữ Chân cũng giống như cuộc chiến chống lại Tây Hạ.

Kết quả của chiến thuật siêu đẳng và sự hoàn hảo của chiến lược là Thành Cát Tư Hãn đã xâm chiếm và hợp nhất phần lãnh thổ nhà Kim đến tận Vạn lý trường thành của Trung Quốc năm 1213. Cũng năm đó hoàng đế nhà Kim là Hoàn Nhan Vĩnh Tế bị tướng Hồ Sa Hổ giết trong cuộc bạo loạn. Cháu của Hoàn Nhan Vĩnh Tế là Hoàn Nhan Tuần lên ngôi. Sau đó Thành Cát Tư Hãn chỉ huy ba cánh quân tiến vào phần trung tâm lãnh thổ Kim, nằm giữa Vạn lý trường thành và sông Hoàng Hà. Giống như các vị vua khác tin mình là con trời (thiên tử), ông đã xâm chiếm phần miền bắc Trung Quốc, chiếm giữ hàng loạt thành phố và năm 1215 đã bao vây, chiếm giữ và cướp bóc kinh thành của nhà Kim là Yên Kinh (sau này là Bắc Kinh). Tuy vậy nhưng vua nhà Kim là Hoàn Nhan Tuần tức vua Kim Tuyên Tông đã không đầu hàng mà chuyển kinh thành về Khai Phong vì sự lớn mạnh của người Mông Cổ ở phía bắc. Ở đó những vị vua cuối cùng của nhà Kim là Hoàn Nhan Thừa Lân hay Kim Mạt Đế đã bị đánh bại vào năm 1235.

Tây Á

Cùng thời gian đó Khuất Xuất Luật (Kuchlug), vị hãn bị phế truất của bộ tộc Nãi Man, đã chạy về phía tây và cướp hãn quốc Tây Liêu, đồng minh phía tây của Thành Cát Tư Hãn. Trong thời gian này, quân đội Mông Cổ đã mệt mỏi do hơn 10 năm chiến tranh chống lại Tây Hạ và Kim. Vì vậy Thành Cát Tư Hãn chỉ gửi khoảng 20.000 quân dưới sự chỉ huy của viên tướng trẻ Triết Biệt để chống lại Khuất Xuất Luật. Một cuộc nổi dậy trong nước với sự giúp đỡ của người Mông Cổ và sau đó Triết Biệt tràn qua đất nước này. Lực lượng của Khuất Xuất Luật đã bị đánh bại ở phía tây của Kashgar; ông ta bị bắt sống và bị hành hình sau đó, Tây Liêu bị sáp nhập vào Mông Cổ. Năm 1218 vương quốc Mông Cổ mở rộng về phía tây tới hồ Balkhas và tiếp giáp với đế quốc Khwarezm (dịch theo tiếng Trung là Hoa Lạt Tử Mô), một quốc gia Hồi giáo trải dài từ biển Caspi ở phía tây và vịnh Ba Tư, biển Ả Rập ở phía nam.

Năm 1218 Thành Cát Tư Hãn gửi một đoàn sứ giả sang tỉnh phía đông của đế quốc Khwarezm với mục đích thảo luận khả năng buôn bán với quốc gia này. Thống đốc của tỉnh này đã giết chết họ và làm Thành Cát Tư Hãn giận dữ. Ông đã cho 200.000 quân tràn sang để trả thù. Quân đội Mông Cổ với chiến lược và chiến thuật hơn hẳn đã nhanh chóng hạ thành phố này và hành hình viên thống đốc bằng cách đổ bạc nóng chảy vào tai và mắt ông ta để trả đũa hành động xúc phạm tới Thành Cát Tư Hãn và những ý định tốt đẹp ban đầu củangười Mông Cổ.

Cùng thời điểm này (1219) ông quyết định mở rộng ảnh hưởng của Mông Cổ đối với thế giới Hồi giáo. Quân đội Mông Cổ lần lượt hạ các thành phố chính của Khwarezm như Bukhara, Samarkand và Balkh, và hoàng đế Khwarezm là Ala ad-Din Muhammad II đã phải chuẩn bị lực lượng chống lại họ. Tuy nhiên, ông ta đã bị vượt qua bởi những người Mông Cổ nhanh nhẹn và lắm mưu kế hơn và phải liên tục rút lui. Cuối cùng, Ala ad-Din Muhammad II đã tìm cách đến ẩn náu ở Khorasan, nhưng bị viêm màng phổi chết ở một hòn đảo trên biển Caspi, gần cảng Abaskun năm 1220, và đế quốc Khwarezm sụp đổ.

Đế quốc Mông Cổ từ năm 1206 đến năm 1294

Sau đó quân đội Mông Cổ chia làm hai đạo quân, Thành Cát Tư Hãn chỉ huy một nhánh tràn vào Afghanistan và bắc Ấn Độ, nhánh kia do tướng Tốc Bất Đài (Subedei hay Subutai) chỉ huy tiến vào Kavkaz và Nga. Không một cánh quân nào bổ sung thêm lãnh thổ cho đế chế nhưng họ đã cướp bóc và đánh bại mọi đội quân mà họ gặp. Năm 1225 cả hai cánh quân đều quay trở lại Mông Cổ.

Những cuộc xâm lăng này đã bổ sung thêm Transoxiana và Ba Tư vào đế chế vốn đã ghê gớm và xác lập hình ảnh của Thành Cát Tư Hãn như một chiến binh khát máu trong những người không biết hoặc không muốn biết rằng ông là ông chủ thực sự của thế giới.

Châu Âu

Sau khi tiêu diệt Đế quốc Khwarezmian vào năm 1220, Thành Cát Tư Hãn tập hợp lực lượng của ông ở Ba Tư và Armenia để trở về thảo nguyên Mông Cổ. Theo đề nghị của Tốc Bất Đài, quân đội Mông Cổ được chia thành hai cánh. Thành Cát Tư Hãn dẫn phần lớn quân chủ lực về Mông Cổ bằng cách tấn công xuyên qua Afghanistan và bắc Ấn Độ. Cách còn lại gồm 2 vạn quân (tức 2 tümen, vạn hộ), do Triết Biệt và Tốc Bất Đài chỉ huy, hành quân qua vùng Kavkaz và vào Nga, tấn công sâu vào Armenia và Azerbaijan. Người Mông Cổ phá hủy Gruzia, chiếm được trung tâm thương mại và quân sự Caffa ở Krym của Cộng hòa Genova, và tiến sát biển Đen. Ảnh hưởng của vó ngựa Mông Cổ được mở rộng hơn bao giờ hết.

Trên đường trở về Mông Cổ, cánh quân Tốc Bất Đài bị liên quân Cuman-Kipchak và lực lượng lớn quân Nga Kiev lên tới 8 vạn, tập hợp từ quân đội của các vương công Nga, do Mstislav Dũng cảm của Halych và Mstislav III của Kiev chỉ huy, chặn lại. Tốc Bất Đài gửi sứ giả đến đề nghị hòa bình nhưng các sứ giả bị hành quyết. Nổi giận vì bị từ chối, Tốc Bất Đài ra lệnh tấn công vào đội quân Nga Kiev, tuy đông nhưng kém phối hợp bởi sự thiếu đoàn kết của các vương công Nga, và đã đánh tan đội quân này tại trận sông Kalka năm 1223. Quân Mông Cổ tiếp tục càn quét lãnh thổ Nga và chỉ chịu dừng lại sau trận eo sông Samara, khi bị quân Volga Bulgar, do Ghabdulla Chelbir chỉ huy, phục kích gây thiệt hại nặng nề.

Các vương công Nga không còn cách nào khác ngoài lời đề nghị cầu hòa, mà thực chất là lời đầu hàng nhục nhã. Tuy họ không bị tước đi quyền lực, nhưng họ phải chịu thần phục và triều cống cho Thành Cát Tư Hãn. Tương truyền, để dương uy quân Mông Cổ, Tốc Bất Đài đã cho đặt ván trên đầu các vương công Nga để mở tiệc ăn mừng. Sáu vương công Nga, trong đó có Mstislav III của Kiev, đã bị đè đến chết.

Thành Cát Tư Hãn không phải là người chấp nhận thất bại. Trước khi 2 cánh quân về Mông Cổ năm 1225, họ đã trinh sát và tìm hiểu kỹ đối phương để chuẩn bị phục thù. Dù Thành Cát Tư Hãn chết 2 năm sau đó, quân Mông Cổ cũng một lần nữa trở lại vào năm 1237 dưới sự chỉ huy của Bạt Đô (Batu), chinh phục hoàn toàn lãnh thổ Nga Kiev và Volga Bulgar vào năm 1240, trả lại mối thù bại trận lần trước.

Chiến dịch cuối cùng

Đế chế chư hầu Tây Hạ đã từ chối không tham chiến chống lại đế chế Kharezm, và Thành Cát Tư Hãn đã thề dành cho họ sự trừng phạt. Trong khi ông đang ở Iran, Tây Hạ và Kim đã hình thành liên minh chống lại người Mông Cổ. Sau một thời gian nghỉ ngơi để chỉnh đốn quân đội, Thành Cát Tư Hãn chuẩn bị chiến tranh chống lại liên minh này.

Cùng thời gian này, ông cũng phải suy nghĩ về việc chọn người kế nghiệp để xóa bỏ những cuộc tranh giành liên miên giữa các con; ông đã chọn người con trai thứ ba là Oa Khoát Đài (Ögedei) làm người kế nghiệp cũng như thiết lập cơ chế lựa chọn những người kế nghiệp trong tương lai với điều kiện họ phải là hậu duệ của ông. Ông đã nhận được những báo cáo tình báo về lực lượng Tây Hạ, Kim và chuẩn bị lực lượng 180.000 quân cho các chiến dịch mới.

Xâm lăng Nhật Bản-Cung thủ Mông Cổ tấn công các Samurai trên lưng ngựa

Năm 1226, Thành Cát Tư Hãn tấn công Tây Hạ với cớ là Tây Hạ chứa chấp kẻ thù của Mông Cổ và để trừng phạt sự phản bội của họ. Tháng 2, ông chiếm các thành phố Hắc Thủy, Cam Châu và Túc Châu và trong mùa thu năm đó ông chiếm phủ Tây Lương. Các tướng Tây Hạ đã đánh một trận lớn với quân Mông Cổ gần dãy núi Hạ Lan Sơn. Quân Tây Hạ đại bại. Tháng 11, ông bao vây thành Linh Châu và vượt qua sông Hoàng Hà đánh bại quân cứu viện của Tây Hạ.

Năm 1227, ông tấn công kinh đô Tây Hạ, trong tháng 2 chiếm phủ Lâm Thao, tháng 3 chiếm quận Tây Ninh (tỉnh Thanh Hải ngày nay) và phủ Tín Đô. Trong tháng 4 chiếm quận Đức Thuận. Tại Đức Thuận, tướng Tây Hạ Mã Kiên Long chống lại quân Mông Cổ trong nhiều ngày cả trong và ngoài thành. Mã Kiên Long sau đó chết do bị tên bắn. Thành Cát Tư Hãn sau khi chiếm Đức Thuận, tiến quân tới Lục Bàn Sơn (thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Cam Túc) để tránh mùa hè khắc nghiệt.

Vua Tây Hạ mới, đã chính thức đầu hàng quân Mông Cổ năm 1227 và hẹn xin nộp thành. Tây Hạ bị diệt sau khi tồn tại 190 năm, từ 1038 đến 1227. Trước thời hạn vua Tây Hạ nộp thành vừa đúng một ngày thì Thành Cát Tư Hãn mất. Quân Mông Cổ đã giết vua Tây Hạ và cả hoàng tộc này.

Trước khi chết, Thành Cát Tư Hãn đã chia đế chế của ông cho bốn người con trai. Truật Xích là lớn nhất, nhưng đã chết và quan hệ huyết thống của ông ta cũng bị nghi ngờ, vì thế những vùng đất xa xôi nhất của đế quốc như miền nam Ruthenia đã được chia cho các con của ông này là Bạt Đô thủ lĩnh của Thanh Trướng hãn quốc, và Oát Nhi Đáp (Orda), thủ lĩnh của Bạc Trướng hãn quốc. Sát Hợp Đài (Chagatai) là con trai thứ hai, nhưng là người nóng nảy được chia vùng Trung Á và bắc Iran. Oa Khoát Đài (Ogedei), con trai thứ ba là Đại hãn và nhận được Trung Quốc. Đà Lôi (Tolui), trẻ nhất, nhận Mông Cổ. Tháng 7 âm lịch năm 1227, sau khi nhận được tin hoàng tử Truật Xích ở Khwarezm qua đời, Thành Cát Tư Hãn bệnh nặng. Trên giường bệnh, Thành Cát Tư Hãn phác thảo kế hoạch cho Đà Lôi, sau kế hoạch này được những người kế vị sử dụng để triệt hạ dứt điểm nhà Kim và thông báo người kế vị là Oa Khoát Đài.

Trong chiến dịch cuối cùng của mình chống lại nhà Tây Hạ, Thành Cát Tư Hãn đã chết vào ngày 18 tháng 8 năm 1227. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn chưa được sáng tỏ, nhiều người cho rằng do ông ngã ngựa vì tuổi già và suy giảm thể lực hay sự ám sát từ phía kẻ thù. Biên niên sử Galicia-Volhynia cho rằng ông bị những người Đảng Hạng giết chết, tuy nhiên đến ngày nay vẫn chưa ai biết rõ.

Sau khi ông chết, thân xác ông được đưa về Mông Cổ và được cho là mang về nơi ông sinh ra ở aimag Khentii, là nơi mà nhiều người cho rằng ông đã được hỏa thiêu ở một nơi nào đó gần sông Onon. Đoàn hộ tống lễ tang đã giết hết mọi người và tiêu hủy mọi thứ lạc vào đường của họ tới nơi thiêu xác ông để không ai có thể khám phá ra nơi họ chôn cất người lãnh tụ đáng kính của mình. Trong đám tang của ông (để giữ bí mật) người ta cho rằng đã có ít nhất 40 cung nữ đã bị hỏa thiêu cùng với ông, vì thế ngay cả các bà mẹ của họ cũng không thể xác định được nơi mà các cung nữ đã bị thiêu. Lăng Thành Cát Tư Hãn là nơi tưởng niệm ông, nhưng không phải là nơi chôn cất ông. Vào ngày 6 tháng 10 năm 2004, người ta đã cho là tìm thấy "cung điện Thành Cát Tư Hãn", được cho là khu mộ của ông.


(Theo Wikipedia)

...............


Sách


Kể về những cuốn sách trên kệ sách của tôi.