Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

Điều khoản về chống tham nhũng và nhân quyền trong hợp đồng thương mại


BLA: Bài viết này của tui được đăng trên báo Thế giới Tiếp thị ngày 8-12-2015. Thực ra chỉ đơn giản là kể lại một tình huống trong công việc hàng ngày. Bài gốc "căng" hơn chút và được biên tập chút đỉnh cho an toàn và đẹp mắt hơn. Nói thật là tui cảm thấy buồn khi các đối tác nước ngoài ngày càng bày tỏ nghi ngại về chuyện tham nhũng, nhân quyền ở Việt Nam.

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu, rộng, doanh nghiệp cũng như Chính phủ sẽ phải chú trọng những nội dung này, để bảo đảm hội nhập thành công.

(Tham nhũng, nhân quyền là chuyện có liên quan đến cả lĩnh vực thương mại. Ảnh minh họa)

Mới đây, doanh nghiệp nơi tôi làm tư vấn nhờ tôi kiểm tra pháp lý một bản dự thảo hợp đồng mua bán hàng hoá trước khi ký kết. Đây là công việc hàng ngày của tôi và thực ra đây chính là một mẫu hợp đồng do chính phía chúng tôi đưa ra và cũng đã ký nhiều lần với đối tác này. Tuy nhiên, lần này có một sự khác biệt tuy nhỏ nhưng khá thú vị. Đó là phía đối tác đề nghị thêm vào trong hợp đồng một điều khoản về “chống tham nhũng và tiêu chuẩn nhân quyền”.

Nguyên văn đoạn về nhân quyền mà phía đối tác đề nghị đưa vào như sau: “Bên B (chú thích: tức là bên chúng tôi) có trách nhiệm (và phải đảm bảo nhà đại diện, đại lý, nhà thầu phụ, nhà cung cấp và người lao động) thực hiện như sau: Tất cả các quy ước, hướng dẫn liên quan đến công tác phòng chống lao động trẻ em thông qua các tổ chức lao động quốc tế (hoặc một cơ quan tương tự hoặc thay thế) và công ước châu Âu về Nhân quyền (hoặc công ước, quy ước tương tự để bảo vệ quyền con người thông qua bất cứ nơi nào trên thế giới)”.

Sau khi xem xét, tôi đồng ý với phần mà phía đối tác đề nghị thêm vào, nêu ý kiến của mình với công ty rằng “Những điều khoản thêm vào thực ra không liên quan trực tiếp đến giao dịch mua bán ghi nhận trong hợp đồng. Nói chung cũng không có vấn đề gì, ký được. Suy cho cùng cũng là ý tốt, ràng buộc cả hai bên”.

Song quả thật là tôi cũng có chút suy nghĩ về việc này. Trên 15 năm hành nghề luật sư, tôi có cơ hội tiếp cận với hàng ngàn hợp đồng thương mại các loại, từ rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức. Tôi thấy từ lâu, các doanh nghiệp nước ngoài (hay có vốn nước ngoài), khi ký hợp đồng mua hay thuê dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn, thường đề nghị đưa vào hợp đồng thương mại điều khoản về chống tham nhũng. Nội dung cơ bản là yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam không được có những hành vi như hối lộ, đề nghị hay chi trả (trực tiếp hoặc qua bên thứ ba) về việc thanh toán tài chính hoặc các lợi thế khác (chẳng hạn như tặng quà, biếu xén…) cho bất kỳ ai của bên đối tác. Nói chung họ xác định hành vi tham nhũng, hối lộ là không chấp nhận được.

Trong khi đó, các doanh nghiệp thuần Việt Nam (tức là không có vốn hay yếu tố nước ngoài) rất ít khi quan tâm tới hay đề nghị đưa vào hợp đồng những điều khoản như vậy. Mà ngược lại, thậm chí trong đời sống xã hội, chuyện chúng ta nghe một vị giám đốc nói phải “chạy chọt”, “đi đêm” để ký được hợp đồng gần như là chuyện khá… thường ngày ở huyện!

Chính tôi trực tiếp nghe không ít giám đốc cho biết muốn ký được những hợp đồng hay trúng những gói thầu mà chủ đầu tư là cơ quan tổ chức nhà nước, hay có vốn từ ngân sách nhà nước, đều phải chia phần trăm cho những quan chức có thẩm quyền tại địa phương.

Tuy nhiên, việc một đối tác nước ngoài đề nghị đưa vào hợp đồng điều khoản về nhân quyền như lần này dù sao cũng khá mới và hiếm hoi.

Xét về mặt pháp luật kinh doanh, những điều khoản về chống tham nhũng, bảo vệ nhân quyền mà đối tác đề nghị đưa vào đều mang tính chất khuyến cáo, không có chế tài (phạt) nhưng trao cho phía đối tác nước ngoài quyền được đơn phương huỷ bỏ, chấm dứt hợp đồng nếu phía Việt Nam vi phạm.

Xét về phương diện pháp luật thương mại quốc tế, thực ra nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có cả Việt Nam, từ lâu đã có quy định các doanh nghiệp không được sử dụng lao động trẻ em, vi phạm các nguyên tắc cơ bản về quyền của người lao động – chính là vấn đề nhân quyền. Trong khi ở nước ngoài, gần như chắc chắn các doanh nghiệp sẽ phải trả giá, bị tẩy chay, thậm chí có thể dẫn đến phá sản, đánh mất uy tín… nếu vi phạm về nhân quyền, thì ở Việt Nam hầu như chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý hay kiểm tra về những hành vi tham nhũng, hối lộ hay vi phạm nhân quyền…

Hay nói khác đi, trong khi các doanh nghiệp nước ngoài thực sự tôn trọng, “sợ”, để bảo đảm hình ảnh, uy tín – cũng chính là lợi ích trong kinh doanh của mình, thì các doanh nghiệp Việt Nam hầu như không quan tâm hoặc cố tình né tránh vấn đề này. Điều đó phần nào đã nói lên rằng: việc phòng chống tham nhũng, hối lộ và thực thi các vấn đề về nhân quyền ở Việt Nam phải hết sức chú ý.

-------------

Bài liên quan: