Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Nhà giáo Trần Hữu Tá: 'Không thể giới thiệu một ông bí thư tỉnh uỷ là giáo sư'


BLA: Ủng hộ quan điểm của nhà giáo Trần Hữu Tá. Theo tôi, giáo sư mà làm gì khi tư duy thì cổ hũ, lú lẫn, kiến thức lạc hậu, chỉ nhằm "phục vụ" cho tham vọng chức quyền. Giáo sư mà chẳng làm "sư", chỉ làm quan, lại còn tham nhũng, vô cảm, chỉ biết vun vén tiền bạc ... thì dân khinh chứ đâu có nể trọng gì. Nếu anh giỏi, thì hãy có những công trình nghiên cứu, phát minh sáng tạo ... góp phần làm đất nước phát triển, mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội.  

Ủng hộ việc trường ĐH được bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, nhà giáo Trần Hữu Tá cho rằng nếu Trường ĐH Tôn Đức Thắng hội đủ các điều kiện nên để trường làm.

PGS Trần Hữu Tá: "Chủ trương của ĐH Tôn Đức Thắng được ủng hộ, chuẩn thuận, phản đối, phản đối vĩnh viễn phải chờ thời gian. Nhưng việc làm của họ đã gieo tiếng vang chấn động vì đây là bước đột phá"

* Trường ĐH Tôn Đức Thắng phản bác thông tin dừng việc tự phong GS, PGS

Ông có suy nghĩ gì về quyết định tự bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư của Trường ĐH Tôn Đức Thắng?

- Việc bổ nhiệm giáo sư nội bộ nhà trường là chuyện cũ người mới ta. Ở phương Tây, việc này được thực hiện từ lâu. Nếu để ý trên namecard các trí thức nước ngoài liên hệ với ta sẽ thấy họ giới thiệu là giáo sư của trường nào. Căn cứ vào tên trường để biết người đó giá trị đến đâu. Phương Tây làm như vậy vì có lý lẽ riêng. Khi giảng dạy người đó là GS, PGS, hết giảng dạy họ còn lại học vị tiến sĩ, thạc sĩ. Tên gọi giáo sư chỉ mang tính thời vụ.

Ở Việt Nam chưa có tiền lệ nên vấn đề trở nên quá mới và thành dư luận phân cực. Chức danh GS,PGS được nhà nước phong hẳn hoi. Nhiều người không làm công tác giảng dạy vẫn là giáo sư, phó giáo sư nên có chuyện giáo sư bộ trưởng, giáo sư thứ trưởng, giáo sư vụ trưởng.. rất buồn cười!

Chuyện ĐH Tôn Đức Thắng làm có cơ sở, suy nghĩ và thực hiện. Đây là một trong những nội dung của quyền tự chủ đại học. Tất nhiên, việc tự chủ phải đứng dưới dự giám sát của nhà nước. Nhưng trường phải tính toán, cân nhắc đã đủ điều kiện để tự bổ nhiệm chưa. Việc quan trọng nhất, hội đồng giáo sư trường mạnh hay yếu, có bao nhiêu người thực sự có trình độ cao, có học vị, học hàm đàng hoàng.

Nếu trường có đủ điều kiện nên để cho họ làm. Nếu chưa đủ điều kiện nên khuyên họ xây dựng đội ngũ vững vàng, chờ thời gian, không nóng vội. Đây là chuyện không nên cấm.

Về hội đồng chức danh giáo sư nhà nước vẫn tồn tại. Có những giáo sư do nhà nước phong và có những giáo sư trong phạm vi trường bổ nhiệm. Lúc này đề nghị chức danh do nhà nước phong để tên gọi giáo sư. Chức danh do trường bổ nhiệm phải ghi rõ tên trường.

Theo ông một trường ĐH tự quyết định bổ nhiệm chức giáo sư có tác động như thế nào hệ thống giáo dục đại học và những cá nhân được hội đồng chức danh giáo sư nhà nước công nhận?

- Nếu một trường đại học làm việc này sẽ động mạnh đến toàn bộ hệ thống đại học công lập. Ý kiến có thể phân cực. Những trường “đại gia” lâu nay sẽ mỉm cười, thậm chí chế diễu. Những trường bình thường, trường đàn em cảm thấy đây là sự động viên.

Đối với những cá nhân được nhà nước phong, ai thiển cận sẽ chế diễu, chê bai. Nhưng cá nhân bình tĩnh, chín chắn thấy đây là một nhân tố mới. Một biểu hiện tốt nếu chỉ đạo chặt chẽ, hướng dẫn đến nơi đến chốn. Người được phong trong phạm vi trường cũng thể hiện vinh dự được hưởng nếu thật sự xứng đáng. Càng có điều kiện để hội nhập quốc tế.

Căn cứ vào sự phân loại của dư luận trong 400 trường ĐH, CĐ ở nước ta số vững vàng tự chủ, tự lập về mặt chuyên môn chỉ được 1/3. Điều đó có nghĩa 66% số trường rơi vào tình trạng yếu. Trước đây có tình trạng “cơm chấm cơm”- tốt nghiệp đại học dạy đại đại. Nay vẫn lặp lại tình trạng này. Chúng ta không quá coi trọng học vị nhưng học vị là một chuẩn để phân biệt người đó đang ở đâu, như thế nào không loại trừ có thạc sĩ giấy, tiến sĩ dởm. Nhưng không vì hiện tượng này để phủ nhận những học vị kia.

Tôi xin nhắc lại trường muốn làm phải có điều kiện. Không thể các trường ồ ạt cùng làm dẫn đến tình trạng giáo sãi quá nhiều, giáo sư quá ít.

Rất nhiều ý kiến e ngại danh hiệu giáo sư do ĐH Tôn Đức Thắng công nhận sẽ đánh đồng với danh hiệu do nhà nước công nhận. Bản thân ông thế nào?

- Tôi không có gì để e ngại điều này. Gọi giáo sư, phó giáo sư tức là ông thầy dạy học. Một chuyên gia nông nghiệp trên truyền hình có thể gọi giáo sư vì họ làm ở viện nghiên cứu, nhưng không thể giới thiệu một ông bí thư tỉnh uỷ là giáo sư…

Tên gọi phải đi với đặc thù nghề nghiệp, dạy học, nghiên cứu hay làm công tác quản lý hành chính. Nếu làm công tác quản lý hành chính nên gọi học vị không dùng chức vụ khoa học và trân trọng danh hiệu của họ.

Quyết định của ĐH Tôn Đức Thắng bị hội đồng chức danh giáo sư nhà nước và nhiều nhà khoa học phản đối. Theo ông quyết định của trường này có thuận lợi?

- Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước phản đối quyết liệt trước việc làm của trường Tôn Đức Thắng. Trong giới khoa học nhiều người tán thành, nhiều người phản đối và thứ ba là tán thành nhưng có điều kiện. Tôi thuộc người thứ ba. Tôi nghĩ, vấn đề này Bộ GD-ĐT không giải quyết được mà phải chờ ý kiến những người cấp cao hơn từng có thời gian làm công tác giáo dục.

Chủ trương của ĐH Tôn Đức Thắng được ủng hộ, chuẩn thuận, phản đối, phản đối vĩnh viễn phải chờ thời gian. Nhưng việc làm của họ đã gieo tiếng vang chấn động vì đây là bước đột phá. Bước đột phá này có thể hấp tấp, vội vàng nhưng là bước đột phá cần thiết.

Tất nhiên, trường đột phá, mở đầu luôn phải hứng chịu những điều chê trách, phản bác những cũng là đối tượng nhận được những lời khích lệ, khen ngợi. Việc làm này công luận sẽ xem xét. Nếu không đột phá sẽ không mở hướng cho giáo dục phát triển.

Trường ĐH Tôn Đức Thắng cho rằng trường được quyền bổ nhiệm giáo sư vì được quyền tự chủ, làm những gì pháp luật không cấm. Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước cho rằng khi pháp luật chưa cho phép là phạm luật, ông nghĩ sao?

- Theo tôi, chỗ này rơi vào khoảng tù mù, không rành mạch. Vì nội dung, khái niệm tự chủ đại học được quy định chưa rành mạch. Quy định không rành mạnh có được làm hay không nên bên nào cũng có lý.

ĐH Tôn Đức Thắng nói có lý, hội đồng chức danh giáo sư nhà nước nói cũng có lý. Điều này cũng như “sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”. Vì vậy phải có sự can thiệp của cấp cao hơn, phải có văn bản chỉ đạo rành mạch đồng ý hay không đồng. Vì sao? không đồng ý vĩnh viễn hay không đồng ý tạm thời.

Theo ông uy tín, vai trò của hội đồng chức danh giáo sư nhà nước như thế nào nếu trường đại học được quyền tự công nhận chức danh giáo sư?

- Tôi cho rằng uy tín của hội đồng chức danh giáo sư nhà nước không giảm gì. Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước vẫn làm việc của ho. Các trường được phép làm việc của trường. Cũng như bên cạnh hệ thống siêu thị, đại siêu thị có những cửa hàng tiện ích, siêu thị mini. Nếu bây giờ mới mẻ phân tâm, phân cực sau này sẽ diễn ra bình thường phổ biến.

Chỉ sợ việc này “té nước theo mưa”, chúng ta sẽ được một mùa bội thu nhưng cũng là mùa thóc lép. Việc xem xét, bổ nhiệm chính xác rất có ích, nhưng nếu làm để có danh, có vai vế khoa học giống như con giao hai lưỡi. Đã có rất nhiều tiến sĩ, sẽ có rất nhiều giáo sư, danh không xứng với thực. Tình trạng hữu danh vô thực rất nguy.

Nhiều ý kiến sẵn sàng ủng hộ trường đại học được quyền công nhận, bổ nhiệm giáo sư nhưng e ngại ĐH Tôn Đức Thắng. Ý ông ra sao?

- Chúng ta rất cần những hoạt động đột phá, tiên phong mở đường nhưng các đơn vị muốn đột phá phải xem lại mình. Điều kiện cơ bản không phải thời gian xây dựng nhiều hay ít mà lực lượng như thế nào. Có thể một trường mới 5 năm đã xây dựng đủ, nhưng một trường có lịch sử 20-30 năm vẫn sống vất vưởng như người thiếu máu.

Có ý kiến cho rằng trong trường đại học, đội ngũ giảng viên là bộ khung dựng. Trong đội ngũ giảng viên có các giáo sư đóng vai trò chủ chốt Theo ông vai trò của hai đội ngũ này như thế nào?

- Một trường đại học được tín nhiệm của xã hội căn cứ vào kết quả đào tạo. Kết quả đào tạo phụ thuộc vào tổ chức trường, thực lực đội ngũ giảng dạy… Có những trường có nhiều giáo sư nhưng không ra sao. Ngược lại những trường chưa có giáo sư nhưng có đội ngũ tiến sĩ, thạc sĩ tốt vẫn có kết quả cao. Việc giáo sư do trường bổ nhiệm là điều kiện cần nhưng chưa đủ, cũng không phải điều kiện quyết định.

Có giai đoạn, chúng ta có những cá nhân không phải cử nhân, càng không phải thạc sĩ, tiến sĩ nhưng được thế giới cực kì nể trọng như giáo sư Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Nghiêm Toản, Giản Chi… Bên cạnh đó số cá nhân ra nước ngoài học có trình độ cao như GS Phạm Huy Thông, Nguyễn Mạnh Tường… Hai nguồn này một tự học và một được đào tạo thực chất, bằng cấp đáng giá, đáng tin cậy hoà hợp với nhau tạo nên thế hệ vàng trong trí thức Việt Nam.

Tôi nhấn mạnh trình độ chuyên môn quyết định tất cả. Xã hội và đặc biệt những nhà khoa học sẽ phân biệt được đâu là hạt châu - mắt cá; vàng giả- vàng thật.

Cảm ơn ông đã trao đổi

Lê Huyền(thực hiện)

----------

Nhà giáo Trần Hữu Tá năm nay 78 tuổi. Trước khi nghỉ hưu, nhà giáo Trần Hữu Tá công tác tại Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM. Nhà giáo học vị tiến sĩ, chức danh phó giáo sư.

--------------

Cập nhật chiều 23-9-2015:

Trường ĐH Tôn Đức Thắng phản bác thông tin dừng việc tự phong GS, PGS


Sau phát ngôn của lãnh đạo Cục nhà giáo – Bộ GD-ĐT trên báo là trường đại học Tôn Đức Thắng đã dừng việc tự phong GS,PGS, ông Lê Vinh Danh, Hiệu trưởng trường ĐH Tôn Đức Thắng cho rằng: “Không hiểu từ đâu có thông tin trường dừng việc này? Tại sao dừng? Tôi chưa hề dùng chữ “dừng thực hiện”.

Không có lý do gì để “dừng”


Ông Lê Vinh Danh, Hiệu trưởng trường Đại học Tôn Đức Thắng >

Trả lời PV báo Dân trí, ông Lê Vinh Danh, Hiệu trưởng trường ĐH Tôn Đức Thắng cho biết: “ tôi chưa hề dùng chữ "dừng thực hiện". Trong một lần trao đổi với Cục nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, tôi trả lời: Qui định này vừa ban hành, nội dung và qui trình thì đã đủ, nhưng biểu mẫu chưa làm xong, thì Báo Pháp Luật TP.HCM đã biết và đưa lên, thế là cả xã hội quan tâm đến. Chứ thực ra chúng tôi "chưa thực hiện". Tôi không hiểu từ đâu có thông tin là Đại học Tôn Đức Thắng dừng lại việc này? Tại sao "dừng"? Việc bổ nhiệm chức vụ chuyên môn cho chuyên gia, Nhà khoa học của Trường (theo qui trình và tiêu chuẩn phù hợp) đã được Chính phủ cho phép thí điểm tại Khoản 2.b, Mục II, Điều 1 của Quyết định 158, ngày 29/01/2015. Chúng tôi làm việc có cơ sở pháp lý của mình. Không có lý do gì để "dừng".

Thứ hai, làm gì có chuyện hiểu nhầm quyết định của Chính phủ. Chính phủ có qui định về tiêu chuẩn xét phong học hàm PGS, GS. Nhưng chúng tôi được thí điểm tự chủ toàn diện, trong đó có thí điểm việc bổ nhiệm nhân sự là chuyên gia, nhà khoa học vào các chức danh nghề nghiệp tại Trường; vì thế, chúng tôi có quyền thí điểm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn riêng, phù hợp với yêu cầu của Nhà trường để xét và bổ nhiệm. Bảo chúng tôi "hiểu nhầm quyết định của Chính phủ nên soạn thảo văn bản chưa chuẩn, chưa chặt chẽ (trong việc qui định tiêu chuẩn xét)" là rất chủ quan.

Theo ông Danh, “điều đáng nói hơn đó là Bộ tiêu chuẩn để xét xem ứng viên có đáp ứng đủ tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào các chức danh nghề nghiệp hay không của chúng tôi hiện nay cao hơn tiêu chuẩn xét học hàm có cùng tên của Hội đồng CDGSNN về chất và về lượng. Nhất là có đầy đủ: có tiêu chuẩn cứng, tiêu chuẩn mềm; tham khảo kỹ từ nước ngoài và có các giáo sư nước ngoài cố vấn trong quá trình xây dựng chuẩn. Đồng thời, chúng tôi nghiên cứu cẩn thận, có Hội đồng khoa học và đào tạo thông qua chứ không phải bê nguyên xi của nước ngoài về”.

Thứ  ba, trường chúng tôi không "phong". Việc "phong hàm" hãy để cho Hội đồng nào đó làm. Chúng tôi xét nhà giáo đang công tác tại Trường và có nhu cầu so với Bộ tiêu chuẩn của chúng tôi xem đủ điều kiện không? Có vi phạm pháp luật không? Có vi phạm đạo đức nhà giáo không? Nếu Nhà giáo đạt chuẩn và không có bất kỳ vi phạm gì, chúng tôi bổ nhiệm họ vào chức vụ tương ứng với tiêu chuẩn mà họ có (Trợ lý giáo sư, Giáo sư cộng tác, Giáo sư; hoặc Trợ lý giáo sư nghiên cứu, Giáo sư cộng tác nghiên cứu, Giáo sư nghiên cứu và Giáo sư nghiên cứu xuất sắc); rồi cung ứng đủ điều kiện làm việc (hỗ trợ xe, nhà, phòng làm việc riêng, lab, chuyên viên hỗ trợ, chế độ đi nước ngoài hợp tác nghiên cứu...), trả thu nhập thỏa đáng cũng như mô tả yêu cầu nhiệm vụ mà họ phải thực hiện.

Khi họ hết làm việc hoặc họ vi phạm qui định, chúng tôi bãi miễn. Họ cũng có thể tự xin từ nhiệm nếu sau một thời gian tự nhận thấy là mình không thể đáp ứng nổi nhiệm vụ. Như vậy, Trợ lý GS, PGS, GS tại Trường Tôn Đức Thắng là chức vụ chuyên môn, nghề nghiệp; không là học hàm suốt đời.

Không có cơ sở để lẫn lộn GS,PGS của Nhà nước với GS,PGS của Trường

Sự việc trường ĐH Tôn Đức Thắng đang gây tranh cãi trong dư luận? ông Danh cho rằng dư luận đang tranh cãi xảy ra ở 2 điểm: thứ 1, Trường ĐH Tôn Đức Thắng có đủ nhân lực đẳng cấp để thực hiện việc xét này khách quan, công bằng; thứ 2, PGS, GS hiện nay là từ dùng độc quyền của Hội đồng CDGSNN, sao trường không dùng từ khác, lại dùng từ này để lẫn lộn PGS, GS của Nhà nước với PGS, GS của Trường.

Phía trường có ý kiến rằng, thứ nhất, trường có qui trình peer review-bình duyệt, chứ không phải nội bộ tự xét và bổ nhiệm. Căn cứ Bộ tiêu chuẩn, trường mời những chuyên gia hàng đầu trong ngành ở nước ngoài (và trong một số trường hợp: ở trong nước) thẩm định. Trên cơ sở tôn trọng ý kiến thẩm định của chuyên gia và Hội đồng xét chỉ mời ứng viên và Chuyên gia thẩm định lên tranh luận trước Hội đồng khi và chỉ khi có những vấn đề còn phân vân; ngoài ra, Hội đồng tôn trọng kết luận của chuyên gia thẩm định. Không có chuyện bỏ phiếu kín để quyết định; mọi việc đều phải công khai.

Ông Danh cho hay, năm 2007, khi Bộ GD-ĐT quyết định cho phép các trường đăng ký và trường nào đủ điều kiện, thì tổ chức đào tạo tiến sĩ; lúc đó cũng có những núi lo ngại giống hôm nay, rằng: quá nhiều trường không đủ điều kiện, và như thế xã hội sẽ loạn tiến sĩ…. Nhưng sau 8 năm, mọi việc vẫn ổn. Dĩ nhiên có trường đào tạo tiến sĩ chất lượng khá tốt, có trường trung bình và có trường thực sự chất lượng vẫn còn thấp. Nhưng xã hội đều biết và tự có sự lựa chọn. Đó là một chính sách thông minh. Vậy mà Bộ còn cho thí điểm và hệ thống đại học đã chứng minh là làm được; là không có loạn tiến sĩ. Thế tại sao hôm nay không ai nhớ và rút kinh nghiệm từ chính sách nói trên vào năm 2007?”

Còn điểm thứ hai, chỉ có suy nghĩ cực đoan và duy ý chí mới cho rằng những từ ngữ như GS, PGS thuộc độc quyền dùng của của một cơ quan nào đó. Trước đây GS chỉ những người đi dạy và chúng ta có cả GS trung học, GS đại học; ông GS đại học chẳng buồn gì khi bạn mình ở cấp dạy thấp hơn mình vẫn được gọi là GS bởi ông hiểu mỗi người có mỗi việc; và tên gọi trên dùng để chỉ chung nghề nghiệp của họ (giống như Luật sư, Trạng sư, Kiến trúc sư hay Bác sĩ chuyên khoa...). Chỉ có từ năm 2008, khi Nhà nước giao quyền cho HĐCDGSNN việc công nhận trong toàn quốc mới xuất hiện tâm lý này.

Nếu chúng ta cho rằng những từ đó là độc quyền của HĐCDGSNN, thì khi các đại học nước ngoài mở và hoạt động tại Việt Nam, họ xét và công nhận GS, PGS cho họ, họ cũng phải dùng từ khác để khỏi đụng đến độc quyền này hay sao?

Do đó, các tranh cãi đều không có cơ sở. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm công việc của chúng tôi; sẽ hoàn thiện qui định, biểu mẫu, báo cáo...để xét đợt đầu tiên có lẽ vào đầu 2016. Với tiêu chuẩn như hiện nay, chúng tôi không kỳ vọng có nhiều người trong trường đạt được tiêu chuẩn để nhận sự bổ nhiệm ở một số đợt đầu. Từng bước, giảng viên có mục tiêu rõ ràng để theo đuổi, thì con số người hội đủ tiêu chuẩn những năm về sau sẽ nhiều lên. Hi vọng sau vài năm, việc này phối hợp với việc liên tục tuyển chuyên gia và giáo sư nước ngoài đến làm việc dài hạn tại Trường sẽ giúp Trường đủ nhân lực cho mục tiêu phát triển thành đại học nghiên cứu.