Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Hành vi "cướp ngày" trong vụ án nguyên trưởng công an huyện Khánh Sơn ăn chặn trầm kỳ

Ls. Trần Hồng Phong

Về mặt nguyên tắc, thì một hành vi vi phạm pháp luật chỉ có thể bị truy tố, xét xử về một tội danh. Do vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền và sẽ chọn một tội danh nào đó phù hợp nhất để truy tố. Việc một ông trưởng Công an huyện và ba ông công an khác bàn bạc, ăn chia theo kiểu "ăn chặn" trầm kỳ của một nhóm công dân vào rừng đào (trái phép) có được, thì đó là hành vi "tiêu thụ" hay thực chất là hành vi "cướp ngày", có bản chất lưu manh, nhờ có được chức vụ và điều kiện để thực hiện? 

Các bị cáo nghe tòa tuyên án (từ phải sang): Nguyễn Thành Trung, Luân Văn Nam, Nguyễn Hồng Hà, Trần Lệ Kiên, Vũ Anh Trung - Ảnh: Duy Thanh

Nội dung vụ án:

Báo Pháp luật TP.HCM đưa tin như sau:

Sáng 17-8-2015, sau ba ngày xét xử, TAND tỉnh Khánh Hòa đã tuyên phạt Nguyễn Thành Trung (nguyên thượng tá, trưởng Công an huyện Khánh Sơn, phó giám thị Trại tạm giam Công an Khánh Hòa) 9 năm tù tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". 

Tòa cũng tuyên ba bị cáo khác (đều là cựu cán bộ Công an huyện Khánh Sơn) cùng phạm tội "lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ"; trong đó phạt Nguyễn Hồng Hà (nguyên trung tá, Đội trưởng Đội CSGT), Vũ Anh Trung (nguyên thiếu tá, Đội trưởng Đội Cảnh sát Kinh tế - Môi trường) mỗi bị cáo 5 năm sáu tháng tù, Trần Lệ Kiên (nguyên thượng úy, Đội phó Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - hỗ trợ tư pháp) 5 năm tù. Ngoài ra, tòa cũng phạt Luân Văn Nam (ngụ thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn) hai năm sáu tháng tù cùng về tội danh trên với vai trò đồng phạm. Tòa cũng tuyên buộc Nguyễn Thành Trung phải trả lại cho nhà nước 220 triệu đồng.

Bản án kết luận: 

- Tháng 9-2012, tại khu vực núi Gộp Ngà thuộc xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn nổi lên tình trạng nhiều người kéo đến đào bới, tìm kiếm kỳ trái phép, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. UBND huyện Khánh Sơn thành lập Đội liên ngành, có nhiệm vụ vận động, ngăn chặn người dân đào tìm trầm kỳ ở Gộp Ngà (gọi tắt là đội liên ngành) do Vũ Anh Trung làm đội trưởng, Nguyễn Hồng Hà làm đội phó.

- Tối 26-9-2012, khi nhóm các ông Trần Văn Khánh, Nguyễn Ngọc Thừa đào được một đoạn trầm kỳ, nhiều người dân bao vây, la hét. Sợ bị cướp mất đoạn trầm kỳ, các ông Khánh, Thừa giao đoạn trầm kỳ trên cho Trần Lệ Kiên cất giữ. Tiếp đó, một nhóm người khác cũng đào được đoạn trầm thì Nguyễn Hồng Hà thu giữ, giao cho Luân Văn Nam đem giấu.

- Tối 27-9-2012, Nguyễn Thành Trung đến quán cà phê G.N (ở thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn) gặp các cán bộ công an gồm Vũ Anh Trung, Nguyễn Hồng Hà cùng Trần Văn Khánh (đại diện nhóm phu trầm) và đại diện bảo kê bãi trầm để bàn chuyện bán trầm.

Nguyễn Thành Trung yêu cầu phải đưa đoạn trầm kỳ để mình đem đi bán, đồng thời thống nhất tỉ lệ ăn chia là đội liên ngành 40%, nhóm phu trầm 40%, nhóm bảo kê của Nam- Vương 20%.

Ngày hôm sau, sau khi bán xong trầm kỳ, Nguyễn Thành Trung trực tiếp chia cho nhóm bảo kê 800 triệu đồng, đội liên ngành 1,4 tỉ đồng, nhóm phu trầm 1,6 tỉ đồng.

Tiếp đó, Nguyễn Thành Trung đem bán đoạn trầm kỳ thứ hai với giá 350 triệu đồng, rồi cho nhóm bảo kê 20 triệu, còn lại giao Hà giữ.

Bản án xác định hành vi của các bị cáo đã gây thiệt hại đối với nhà nước hơn 4,1 tỉ đồng.

Bản án nhận định: 

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo Nguyễn Hồng Hà, Vũ Anh Trung, Trần Lệ Kiên, Luân Văn Nam đều khai nhận hành vi phạm tội.

Riêng bị cáo Nguyễn Thành Trung cho rằng mình không biết, không tham gia bàn việc bán trầm cũng như không chia tiền, VKS truy tố oan vì Trung không phạm tội. Nguyễn Thành Trung đưa ra chứng cứ ngoại phạm là từ 18g30 đến 22g ngày 27-9-2012 bị cáo này nhậu với một năm người khác tại quán H.Q (ở TP Cam Ranh, Khánh Hòa), trong đó có các ông Nguyễn Thành Phấn, Chánh án TAND huyện Khánh Sơn, Nguyễn Văn Phương, Viện trưởng VKSND huyện… không có mặt ở quán cà phê G.N nên không tham gia bàn việc bán trầm kỳ chia nhau.

Tuy nhiên, lời khai của một số người làm chứng cho thấy Trung có mặt tại quán nhậu sau 22g. Còn lời khai của một số nhân chứng khác khẳng định tối 27-9-2012 bị cáo Trung bàn việc bán trầm, đưa ra tỉ lệ ăn chia, được giao trầm đi bán và sau đó chia tiền. Mặt khác, Trung cũng người bán đoạn trầm kỳ thứ hai và giao tiền sau đó.

.......................

Diễn tiến tố tụng trước đây:

Tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra từ ngày 18 đến 20-6-2014, TAND huyện Khánh Sơn tuyên phạt Nguyễn Thành Trung 10 năm tù, Nguyễn Hồng Hà, Vũ Anh Trung mỗi bị cáo 5 năm 6 tháng tù, Trần Lệ Kiên 5 năm tù, Luân Văn Nam ba năm tù. 

Sau khi Nguyễn Thành Trung kháng cáo kêu oan, ngày 30-9-2014 TAND tỉnh Khánh Hòa xử phúc thẩm, tuyên hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại từ đầu. Do vụ án có hai nhân chứng là chánh án TAND huyện, viện trưởng VKSND huyện Khánh Sơn nên các cơ quan tố tụng cấp tỉnh rút hồ sơ lên giải quyết để khách quan.

----------------------------

Bình luận của luật sư Trần Hồng Phong

1. Trước hết, trong vụ án này, có thể thấy rằng mức hình phạt mà Tòa tuyên đối với bị cáo chủ chốt Nguyễn Thành Trung là khá nặng và thậm chí còn cao hơn mức hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị trước đó (từ 7-8 năm tù). Đây là một điều đáng ngạc nhiên. Mặc dù đó là quyền của Tòa, nhưng thực tế ít khi như vậy. Đặc biệt, chúng ta đều thấy hầu hết những vụ án hình sự mà bị cáo là cán bộ đều được tuyên theo kiểu nhẹ hều, hay án treo (không phải vào tù). Thì mức án như vậy là khá mạnh tay. Dư luận có lẽ hài lòng!

2. Đọc kỹ những thông tin về tình tiết phạm tội của các bị cáo, hẳn nhiều người không khỏi "rùng mình" khi thấy công an mà chơi với bảo kê, với người phạm pháp sao mà "thân tình", như chuyện "thường ngày ở huyện". Các bên dù ở chiến tuyến đối kháng nhau, mà cùng bàn chuyện ăn chia, tỷ lệ đàng hoàng cụ thể, ở quán cà phê ... cứ như là một phi vụ làm ăn bình đẳng, có "luật". Qua đó, phần nào cho thấy tính chất phức tạp và biến chất của không ít cán bộ trong ngành công an nói riêng, trong các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung. Thật đáng quan ngại và lo âu cho vận mệnh đất nước, cho sự an toàn trong đời sống xã hội của người dân.

3. Trong vụ án này, các bị cáo bị truy tố về 2 tội danh khác nhau. Cụ thể: Nguyễn Thành Trung - tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 BLHS). 3 bị cáo khác (Nguyễn Hồng Hà, Vũ Anh Trung và Trần Lệ Kiên) và Luân Văn Nam - tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Điều này cho thấy quan điểm đánh giá của cơ quan tiến hành tố tụng về vai trò của các bị cáo trong vụ án là khác nhau. Mặc dù hành vi của các bị cáo công an là khá giống nhau.

4. Một điều đáng lưu ý, là trong tội danh của bị cáo Nguyễn Thành Trung - tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", có 2 vấn đề quan trọng không thể không làm rõ. Đó là:

- Số trầm kỳ trong vụ án này có phải là "tài sản do người khác phạm tội mà có" hay không? Nếu đúng vậy, thì đó là tội gì trong Bộ luật hình sự? Thông thường, thì tài sản "do người khác phạm tội mà có" thường là do hành vi (cũng là tội danh) trộm cắp, hay cướp mà có được. Chẳng hạn như A vào cửa hàng trộm 10 chiếc TV, sau đó bán cho B. Khi đó, B sẽ bị truy tố về tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". "Người khác" ở đây chính là A, và hành vi của A là hành vi phạm tội "trộm cắp tài sản".

- Tiếp đó, nếu đã xác định trầm kỳ là tài sản do người khác phạm tội mà có, thì dĩ nhiên cũng cần phải xác định "người khác" là ai - cụ thể trong vụ án này. Qua thông tin trên báo chí, thì thấy đó là nhóm của hai ông Trần Văn Khánh và Nguyễn Ngọc Thừa và một số người khác. Vậy đã làm rõ và kết luận hành vi vào rừng đào trầm kỳ của những người này là "phạm tội" chưa? Và phải chăng sắp tới sẽ có một vụ án mới được khởi tố để làm rõ vấn đề này? Hay là sẽ "chìm xuồng"?

5. Tại phiên tòa, bị cáo Trung đã đề cập đến vấn đề trên. Cụ thể ông này cho rằng việc đào tìm trầm kỳ là không vi phạm pháp luật, huyện Khánh Sơn không có chủ trương thu giữ trầm kỳ do người dân khai thác. (Trong bài Nguyên trưởng công an huyện bị đề nghị 7-8 năm tù - báo Pháp luật TP.HCM). Tuy nhiên, nếu vậy thì có lẽ không thể có chuyện "đại diện VKS dẫn nhiều tài liệu để bác ý kiến này". Nhưng không biết đó là tài liệu gì? Rất tiếc là báo chí không thể thông tin đầy đủ.

6. Cũng theo bị cáo Trung, “Nếu truy tố ba cán bộ công an Nguyễn Hồng Hà, Vũ Anh Trung, Trần Lệ Kiên tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ thì phải truy tố ông Phạm Hồng Sơn, phó Công an huyện Khánh Sơn, về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng vì đã để xảy ra sự việc này”. Tức là ông Trung muốn cấp phó của mình cùng vào vòng lao lý. Thiết nghĩ đây cũng là một đề nghị mà theo tôi không phải là hoàn toàn vô lý.

7. Một tình tiết cũng khá hấp dẫn, là bị cáo Trung liên tục kêu oan, và đưa ra lý lẽ chứng minh bằng tình tiết ngoại phạm là không tham gia vào chuyện bàn bạc bán trầm kỳ ở quán cà phê (nhưng tình tiết này không được VKS và Tòa chấp nhận). Điều này cho thấy bị cáo Trung không hề hối hận, ăn năn gì về hành vi phạm tội của mình. Mà chủ yếu tìm cách chạy tội. Tức là chọn phương án "được ăn cả ngã về không". Không như các bị cáo khác đều thừa nhận hành vi phạm tội, mong được xem xét tình tiết giảm nhẹ.

8. Trong nghề luật sư, gặp trường hợp nhận bào chữa cho bị cáo theo kiểu "chạy tội" như thế này là một lựa chọn khó khăn. Vì nếu luật sư biết và nhận thức hành vi của bị cáo rõ ràng là phạm tội, mà do bị cáo cứ một mực kêu oan, nên luật sư - theo nguyên tắc đứng về quyền lợi của thân chủ, vẫn phải vẫn cãi lấy được thì quả là khó và phải "lì mặt". Nhưng đa phần các luật sư sẽ từ chối, không nhận bào chữa theo kiểu "cãi cùn" như vậy.

9. Trên thực tế, việc một số không nhỏ cán bộ có chức có quyền ăn chặn (hay còn gọi là bọn "cướp ngày") như trong vụ án này thực ra không phải là chuyện hiếm hoi gì trong xã hội hiện nay. Vì lý do tế nhị tôi không muốn nêu tên, nhưng tôi có quen biết một sỹ quan công an huyện. Ông này từng khoe với tôi trong nhà có nhiều cây quý, tài sản quý ...vv, có được từ việc chặn bắt những người buôn lậu, phá rừng ở địa phương. Theo tôi, thì ông này đúng là "cướp ngày".

10. Theo quy định tại Bộ luật hình sự, tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thuộc nhóm "các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng" - bao gồm những tội khác như: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, tội cản trở giao thông đường bộ, tội đua xe trái phép ... Đối với nhóm này, chủ thể phạm tội phần lớn là dân (không phải là cán bộ công chức). Mặt khác, trong tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, theo quan sát của tôi, người phạm tội thường bỏ tiền ra mua lại mà có tài sản. Tức là không có chuyện ép buộc hay lừa đảo, hay có hành vi "mạnh" để có được tài sản. Còn trong vụ án này, các bị cáo sau khi nhận giữ hoặc thu giữ đã nghiễm nhiên xem như tài sản đó là của mình (một phần) và ngang nhiên đòi chia chác. Thế nên báo chí gọi là "ăn chặn". Nhưng theo tôi, gọi như vậy vẫn còn là nhẹ.

11. Cuối cùng, tôi cứ băn khoăn suy nghĩ là liệu việc truy tố bị cáo Nguyễn Thành Trung về tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", tức chỉ mới xử hành vi "tiêu thụ", mà chưa bị xử về hành vi bàn bạc, ăn chăn, hay thậm chí có thể nói là "cướp ngày"- phải chăng đã làm giảm, làm mất đi tính chất côn đồ của hành vi - nếu xem xét một cách toàn diện và đầy đủ?

12. Ông bà mình ngày xưa có câu tục ngữ:

Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan

Chẳng lẽ thời đại bây giờ cũng thế sao?

-----------------------

Quy định tại Bộ luật hình sự:

Điều 250. Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm .

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp ;
c) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn;
d) Thu lợi bất chính lớn;
đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:
a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị rất lớn;
b) Thu lợi bất chính rất lớn.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị đặc biệt lớn;
b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.