Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Năm 1975: Ông bà ngoại tôi đoàn tụ sau 20 năm xa cách

Trần Hồng Phong

Ngày 30/4/1975 hẳn là một ngày không thể nào quên đối với dân tộc Việt Nam, với hàng triệu gia đình. Có thể nói không quá rằng, không có gia đình người Việt nào, lại không liên quan, dính dáng đến cuộc chiến tranh tàn khốc, kéo dài giữa hai miền Nam - Bắc từ 1955 đến 1975. (Miền Bắc thì có sự hỗ trợ của Liên Xô, TQ, ...; Miền Nam thì có sự hỗ trợ của Mỹ, ...). Đây có phải là cuộc chiến cần thiết và là cách duy nhất để thống nhất đất nước hay không? - với quá nhiều sinh mạng, mất mát - lịch sử rồi sẽ phán xét. Song có một thực tế, là với chiến thắng của phe Miền Bắc (xin được tạm gọi như vậy), đã dẫn đến việc đất nước thống nhất đất nước trở lại, sau cuộc chia cắt trên 20 năm (từ Hiệp định Geneve năm 1954, mà số phận của dân tộc VN khi đó thực tế bị định đoạt bởi các nước lớn).

Một cảnh ở Phù Cát (Bình Định), bên con đường đất đỏ mới đổ, thì đất bạc màu, trắng xóa 

Nhờ có ngày 30/4/1975, mà gia đình tôi được trở về Miền Nam, ông bà ngoại tôi (và cả ông bà nội tôi), đã được đoàn tụ sau 20 năm xa cách, bặt tin tức giữa hai miền.

Còn nhớ năm 2001, khi thi tuyển vào lớp Phóng viên do báo Pháp luật TP.HCM tổ chức, khi Báo đưa ra đề bài "bạn hãy kể lại một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời mình", tôi đã viết về cuộc gặp gỡ giữa ông ngoại và bà ngoại tôi sau hơn 20 năm xa cách. Không hiểu sao, giây phút đoàn tụ của ông bà vẫn cứ luôn sống động trong ký ức của tôi suốt bao năm qua.

Nguyên ông bà ngoại tôi là người ở huyện Phù Cát (tỉnh Bình Định), một vùng quê nghèo khó, đất đai cằn cỗi trên dải đất miền Trung, một năm chỉ có hai mùa mưa nắng. Năm 1955, mẹ tôi, rồi ông ngoại tôi tập kết ra Miền Bắc. (Sau này, tôi được biết ông ngoại tôi, vốn xuất thân là con của một địa chủ, chánh tổng tại địa phương, được gia đình cho đi học ở Huế, đã giác ngộ Cách Mạng, tham gia kháng chiến giành chính quyền năm 1945. Xin nói rõ con đường Cách Mạng mà ông ngoại tôi theo, là giành lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, thoát khỏi ách lệ thuộc của Pháp. Hoàn toàn không liên quan gì đến con đường "xã hội chủ nghĩa" hiện nay).

Khi tập kết ra Bắc năm 1955, ông ngoại tôi là một người đàn ông trung niên 45 tuổi. Bà ngoại tôi xấp xỉ 40. Tuy không còn trẻ, nhưng chắc chắn không phải là già.

Ông bà ngoại tôi có hai người con gái, ngoài mẹ tôi tập kết ra Bắc cùng ba, còn một người dì (chị mẹ tôi) ở lại Miền Nam với bà ngoại. Như vậy là, do số phận của lịch sử đưa đẩy, gia đình ông bà ngoại tôi đã ly tán chia đôi, nửa Bắc, nửa Nam từ đó.

Mẹ tôi kể ngày tập kết ra bắc, mẹ mới hơn 10 tuổi, cứ đòi đi chỉ vì ham vui. Vả lại khi đó nói là đi chỉ 2 năm. Chứ nếu biết rồi đi tới 20 năm, thì cả mẹ tôi lẫn ông ngoại tôi chắc chắn là không dám đi rồi. Mẹ tôi kể ngày ấy mẹ phải đi tới hai lần mới được. Lần đầu mẹ được người chú dẫn đi bằng xe lửa, từ Phù Cát xuống Qui Nhơn (cách Phù Cát khoảng 35km) chờ lên tàu biển ra bắc. Bà ngoại tôi lặn lội xuống tận Quy Nhơn nắm tay dẫn về, không cho đi. Mấy tháng sau, thuyết phục mãi bà ngoại mới cho mẹ tôi đi.

Sống trên đất miền Bắc, cả ông ngoại và mẹ tôi đều cho rằng người miền Bắc đối xử rất tốt với học sinh Miền Nam, cán bộ tập kết. Nói chung, ông ngoại tôi và mẹ tôi đều là cán bộ công chức, thuộc tầng lớp "sướng" trên đất Bắc. Cũng trên đất Miền Bắc, ba mẹ tôi gặp nhau (ba tôi cũng là người ở Miền Nam tập kết ra Bắc), rồi sinh ra tôi.

Mẹ tôi kể khi mới ra Miền Bắc, rất nhớ nhà và muốn về lại Miền Nam nhưng mà ... không thể. Vài năm đầu, hai miền còn có thư từ trao đổi. Về sau chiến tranh ngày càng ác liệt, thế là bặt tin nhau. Vợ bặt tin chồng, con bặt tin cha mẹ. Chẳng biết sống chết, sướng khổ thế nào...

Ông ngoại tôi dáng người dong dỏng cao, đẹp trai và rất hiền lành, phúc hậu. Suốt hai chục năm sống trên đất Bắc, ông không lấy thêm người vợ nào (khi đó Nhà nước Miền Bắc cho phép cán bộ Miền Nam được cưới vợ hai). Ông cứ ở vậy, trôi qua thời trai trẻ trong công việc.

Khoảng năm 1972, khi mẹ tôi sinh thêm em tôi, lúc này ông ngoại tôi đã nghỉ hưu, nên tôi về sống với ông ngoại và đi học. Tôi ở với ông ngoại tôi ở thị xã Phúc Yên, cách Hà Nội khoảng 20km. Trong tâm trí tôi, đó là một thị xã trung du tuyệt đẹp, với những hàng cây cổ thụ rợp bóng mát, những hồ nước xanh trong yên bình.

Đầu năm 1975, phe Miền Bắc rầm rộ tấn công giải phóng Miền Nam. Tin "thắng trận" được cập nhật từng ngày. Ở nhà, ông ngoại tôi treo một tấm bản đồ Việt Nam thống nhất (tức là nguyên nước VN từ Bắc đến Nam). Ông theo dõi, đánh dấu, chỉ tay những địa danh ở Miền Nam - mà với tôi hoàn toàn xa lạ (khi đó tôi 7 tuổi). Nhưng tôi nhớ ông luôn chỉ vào hai chữ Bình Định với bao cảm xúc, nỗi niềm khắc khoải, nói sắp giải phóng quê mình rồi. Chờ ngày thống nhất, gia đình mình sẽ về quê, sẽ gặp bà ngoại.

Rồi Miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất - tháng 4/1975.

Qua tháng 5/1975, gia đình tôi có một tin buồn, ba tôi qua đời vì bệnh ở Hà Nội. Mẹ tôi trở thành thiếu phụ góa bụa khi mới 32 tuổi, với hai đứa con nhỏ là tôi (8 tuổi) và em gái tôi (3 tuổi).

Ngay sau ngày đất nước thống nhất, rất nhiều người đã tập kết ra Bắc ngày nào chen nhau đăng ký được về lại Miền Nam. Trong đó có gia đình tôi.

Tôi không nhớ chính xác, vì còn nhỏ, nhưng khoảng tháng 11/1975, gia đình tôi trở về Miền Nam, thuộc chuyến thứ hai dành cho người Miền Nam (chuyến thứ nhất khoảng tháng 9/1975).

Đất nước vừa mới hòa bình, ngổn ngang bom đạn, sự tàn phá. Nên tuy quãng đường từ Hà Nội vào Bình Định chỉ khoảng hơn 1.000km, mà gia đình tôi đã đi đến hơn nửa tháng. Với nhiều chặng dừng, nghỉ ở Vinh, Quảng Bình, Huế, Tam Kỳ ... phương tiện thì từ tàu hỏa cho tới xe khách Miền Bắc, xe đò Miền Nam ...

Một buổi trưa nắng gắt, chiếc xe đò thả gia đình chúng tôi (ông ngoại và ba mẹ con tôi) xuống thị trấn Phù Cát, với lỉnh kỉnh đồ đạc, bụi bặm, sau một chuyến đi dài, vất vả.

Rồi chúng tôi đi về Cát Hiệp, nơi bà ngoại tôi đang ở, cách thị trấn khoảng 5 cây số.

Tôi còn nhớ chúng tôi đi bộ (vì không có xe), băng qua những gò cát trắng, cây cỏ khô cằn. Nhưng trên đầu thì ríu rít tiếng chim chiền chiện hót. Đoàn người ngày càng đông hơn, vì trên đường đi gặp thêm nhiều người ở quê, nhận ra ông ngoại tôi.

Thế rồi, hiện trên gò mênh mông cát trắng, tôi thấy từ phía xa xa thấp thoáng bóng một đám người đang đi tới. Hai đoàn người hướng thẳng vào nhau, ngày càng gần, căng thẳng...

Bỗng trong đoàn người phía xa, tôi thấy bóng một người phụ nữ đã lớn tuổi, dáng cao cao, gầy gò chạy bươn lên phía trước. Mái tóc đen dài buông xõa xuống lưng, phất phơ trong gió.

Khi người đàn bà ấy chạy gần đến đoàn chúng tôi còn khoảng 20 mét, thì trong một phản ứng bất ngờ, bà bỗng lăn đùng ra mặt đất, khóc lóc, chân tay giãy dụa như một người điên. Mọi người xúm lại đỡ người phụ nữ tưởng chừng như đã ngất ấy lên. Ông ngoại tôi ôm lấy người phụ nữ ấy. Người phụ nữ ấy là bà ngoại tôi.

Những người lớn tuổi đều rơi nước mắt. Một cuộc trùng phùng, hội ngộ tưởng chừng như một giấc mơ. Xóa nhòa 20 năm xa cách vợ chồng.

Cũng giống như ông ngoại tôi, suốt 20 năm đằng đẵng, bà ngoại tôi ở vậy nuôi con, chờ chồng. Để có ngày đoàn tụ ấy.

Những năm tiếp theo 1980, có thể nói là những năm vô cùng đói khổ, khó khăn - cũng là của cả đất nước. Ông ngoại tôi từ một công tử nhà giàu, công chức cấp cao ngày nào, dù đã già yếu, phải làm ruộng, nhặt phân bò, tằn tiện hái từng trái dừa khô đem xuống chợ huyện bán - để có thêm đồng tiền mua gạo (bà ngoại tôi không có lương hưu).

Nhưng ông bà ngoại tôi đã tiếp tục chung sống với nhau trong hạnh phúc, êm đềm. Có những thời điểm trên gò cát mênh mông chỉ có hai ông bà già trên 70 tuổi lụi cụi, hí húi với nhau. Buổi tối, bà ngoại tôi thả mình trên chiếc võng đưa cót két, miệng nhai trầu, chửi "cộng sản đã cướp hết đất của bà, làm bà đói khổ"! (Bà ngoại tôi vốn con nhà giàu. Ngày trẻ ông bà ruộng đất rất nhiều, có người ở trong nhà). Còn ông ngoại thì cười, nói "bà thì biết cái gì", rồi ngáy khò khò.

Ông bà ngoại tôi đã sống hạnh phúc như vậy 15 năm nữa, rồi lần lượt rủ nhau ra đi về cõi vĩnh hằng chỉ trong chưa tới một năm. Sau khi bà ngoại mất, ông ngoại về ở với mẹ tôi. Mẹ tôi nói câu nói cuối cùng mà mẹ nghe ông nói, trong một cơn hôn mê trước khi qua đời khoảng 1 tháng, là "bà ơi"!.

Bây giờ, và sẽ là mãi mãi, ông bà ngoại tôi đang nằm bên nhau. Hai ngôi mộ song song, giữa đất trời mênh mông xứ Cát.

Nghĩ về ông bà ngoại, tôi hiểu thế nào là chiến tranh, là sự chia ly, là lòng chung thủy, là nghĩa vợ chồng. Là hạnh phúc, niềm vui và cả sự khó khăn vất vả...

Tôi không muốn nói chuyện chính trị. Nhưng tôi cho rằng ngày 30/4/1975 cần phải hiểu theo nghĩa là ngày đoàn tụ gia đình, thống nhất đất nước.

-------------

Bài liên quan: