Thứ Ba, 20 tháng 1, 2015

Bóng ma "chạy án" trong chuyện thẩm phán "giúp" bị đơn tẩu tán tài sản

Ls Trần Hồng Phong

Ở Việt Nam, đặc biệt trong các vụ án dân sự, có thể nói thẩm phán nắm quyền "sinh sát" rất lớn và ít bị chú ý hơn so với các vụ án hình sự. Nếu thẩm phán yếu kém về nghiệp vụ, hay có tiêu cực, đánh mất lương tâm mà nhận tiền chạy án ... thì sẽ gây thiệt hại từ nhỏ đến cực lớn cho các đương sự. Tuy nhiên, do không có bằng chứng về việc thẩm phán nhận tiền chạy án (đâu có dễ), nên hầu hết các trường hợp tố cáo đều bị "chìm xuồng" trong nỗi chán nản, thậm chí uất ức mà đành bó tay ngậm chịu của người tố cáo. Trong khi đó, hầu như chưa có trường hợp nào thẩm phán bị truy tố hay xử lý một cách tương xứng với những sai phạm của mình. Đa phần cùng lắm thì cũng chỉ bị xử lý hành chính, nội bộ. Chính điều này càng làm cho niềm tin của người dân vào công lý, vào sự nghiêm minh của pháp luật giảm sút nghiêm trọng.  

Công lý phải là sự tôn trọng pháp luật, chứ không phải là bán lương tâm cho ma quỷ hay là một diễn viên hài (ảnh minh họa - cuốn sách luật này với ảnh bìa là diễn viên hài Công Lý đã bị thu hồi)

Báo Pháp luật TP.HCM ngày 20-1-2015 có đăng bài "Thẩm phán bị tố ‘giúp’ bị đơn tẩu tán tài sản" nói về trường hợp một thẩm phán tên T ở TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) bị tố cáo có hành vi "giúp" cho phía bị đơn tẩu tán tài sản qua việc ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, từ đó bị đơn đã bán căn nhà bị ngăn chặn trước đó.

Báo cũng dẫn lời ông Phạm Doãn Hiếu, Chánh án TAND quận Bình Thạnh nói rằng: " Đang yêu cầu Thẩm phán T. giải trình bằng văn bản. Do đang chờ giải trình nên tạm thời những nội dung tố cáo chưa thể trả lời ngay được và sẽ trả lời sau. Tuy nhiên, quan điểm của tòa là kiên quyết không né tránh, xử lý nghiêm và không bao che nếu cán bộ làm sai".

Tuy nhiên, nói thật nói thẳng, là tôi chẳng mấy tin tưởng vào kết quả giải quyết những đơn tố cáo thẩm phán có dấu hiệu tiêu cực. Đơn giản là vì từ lâu, qua thực tế hành nghề luật sư, tôi không còn niềm tin vào sự "nghiêm minh của pháp luật" trong các cơ quan tư pháp nữa.

Quay trở lại nội dung vụ việc, đại ý như sau: (Vui lòng đọc bài gốc cho rõ hơn)

Vừa qua ông Nguyễn Ngọc Tuấn gửi đơn đến cơ quan chức năng tố cáo hành vi của thẩm phán Trương Văn T. ở TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM). Theo đơn, tháng 10-2010, ông có cho vợ chồng ông G. (anh rể và chị ruột Tuấn) mượn 800 triệu đồng để mua và sửa chữa căn nhà tại Lê Quang Định, phường 7, quận Bình Thạnh. Sau đó do vợ chồng ông G. không trả nợ nên tháng 5-2014, ông nộp đơn khởi kiện đến TAND quận Bình Thạnh, yêu cầu vợ chồng ông G. trả nợ cho mình.

Ngày 13-6-2014, TAND quận Bình Thạnh thụ lý hồ sơ và phân công một thẩm phán giải quyết vụ án. Đồng thời, phía ông Tuấn cũng có đơn yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với căn nhà để đảm bảo việc thi hành án.

Ngày 1-7-2014 thẩm phán thụ lý vụ kiện đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấm vợ chồng ông G. chuyển dịch, mua bán, tặng cho, thế chấp, chuyển quyền dưới bất kỳ hình thức nào đối với căn nhà trên. Quyết định này được gửi đến các cơ quan có thẩm quyền. Song song đó, ông Tuấn nộp 100 triệu đồng tiền ký quỹ vào tài khoản đã bị phong tỏa.

Sau đó, thẩm phán này được điều chuyển công tác về nơi khác và thẩm phán Trương Văn T. tiếp tục giải quyết. Ông Tuấn cho biết sau khi được phân công giải quyết vụ án, thẩm phán T. đã nhiều lần gọi điện thoại cho ông nói chuyện về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước đó. Băng ghi âm thể hiện giọng của thẩm phán T. rằng “có muốn duy trì nữa không?”.

Sáng 9-1-2015, ông đến tòa theo giấy mời để gặp Thẩm phán K. (thay thế cho Thẩm phán T.). Tại đây, ông nhận được quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Thẩm phán T. đã ký từ ngày 28-11-2014.

“Tôi phản ứng vì với quyết định hủy bỏ này, phía ông G. hoàn toàn có thể tẩu tán tài sản. Tuy nhiên, Thẩm phán K. cho biết hiện chưa có ai nhận được quyết định hủy bỏ này, tôi là người đầu tiên nhận. Do quá lo lắng, tôi chạy ngay đến Phòng Công chứng số 6 thì được biết căn nhà trên đã bị vợ chồng ông G. chuyển nhượng cho người khác và người này cũng đã kịp chuyển nhượng cho người thứ ba” - ông Tuấn nói.

Trên thực tế. bà Huỳnh Thị Ngọc Yến, Trưởng phòng Công chứng số 6 (TP.HCM), cho biết căn nhà nói trên được vợ chồng ông G. ký bán cho bà X. vào ngày 9-12-2014. Đến ngày 25-12-2014, bà X. ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà H. Khi thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng, công chứng viên đã kiểm tra thông tin về việc ngăn chặn đối với căn nhà này. Tuy nhiên, trên mạng thông tin nội bộ của Sở Tư pháp TP.HCM, công chứng viên không thấy căn nhà nói trên bị ngăn chặn bởi cơ quan có thẩm quyền nào. Do vậy, việc công chứng viên ký công chứng hai giao dịch trên là đúng pháp luật.

Nói tóm lại, là do có quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của thẩm phán T., nên phía bị đơn đã "tẩu tán được tài sản". Và do bị đơn đã tẩu tán được tài sản, cho nên cho dù sau này phía nguyên đơn là ông Tuấn có thắng kiện, thì khả năng thi hành án là rất khó. Vì khi đó bị đơn sẽ không còn tài sản để thi hành án nữa. (Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chính là để bảo đảm việc thi hành án sau này). Chưa kể là để được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, ông Tuấn đã phải bỏ ra 100 triệu đồng.

Nếu thắng kiện mà bản án không được thi hành, thì nói cho cùng cũng chỉ là thắng trên giấy mà thôi. Khi đó công lý, lẽ công bằng vẫn chưa được thực thi. Thiệt hại bên thắng kiện lãnh đủ.

Điều đáng nói là những sự việc theo kiểu như trên hoàn toàn không phải là cá biệt trong ngành tòa án. Mà dưới đây tôi đăng lại một lá đơn của khách hàng (bên dưới bài viết này) như là một ví dụ minh họa "bổ sung".

Câu hỏi không thể đặt ra là vì lý do nào mà thẩm phán lại có những hành động "giúp" cho một bên như vậy? Mà hậu quả nhãn tiền là một bên thì có lợi, còn một bên thì thiệt hại rất rõ ràng.

Thiết nghĩ chỉ có 3 lý do có thể đưa ra giải thích:

- Một, là hành vi của thẩm phán là cần thiết, đúng pháp luật, góp phần giải quyết vụ án một cách hiệu quả, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

- Hai, là thẩm phán quá yếu kém về chuyên môn, đã ra quyết định sai quy định của pháp luật.

- Ba, là thẩm phán đã bán rẻ lương tâm, "nhúng chàm", tiêu cực, nhận tiền chạy án.

Có thể thấy lý do đầu tiên rất dễ đánh giá và kết luận. Chỉ cần đối chiếu theo quy định rất rõ ràng trong Bộ luật tố tụng dân sự là xong!

Thế nhưng, hai lý do sau thì có thể nói là "vô hình", rất khó có chứng cứ để chứng minh, xác định. Đặc biệt là bằng chứng về việc thẩm phán tiêu cực, nhận tiền chạy án.

Thế cho nên dù ai cũng có thể hình dung ra được lý do theo một logic thông thường dễ hiểu, nhưng do không có chứng cứ - nên chuyện chạy án, tiêu cực ở tòa án lâu nay vẫn chỉ là một "bóng ma" mờ ảo, như trêu tức mọi người.

Chừng nào chúng ta (hay nói chính xác hơn là các cơ quan, cá nhân nhà nước có thẩm quyền) chưa có "kính chiếu yêu" đủ độ mạnh mẽ và hiệu quả, để dẹp bỏ những "bóng ma chạy án" đang tồn tại ngang nhiên, nhưng lại mờ mờ ảo ảo trong ngành tòa án như hiện nay, thì chừng đó án oan sai, sự bất công vẫn luôn còn tồn tại. Và công lý, lẽ công bằng vẫn chỉ là lý thuyết, thật xa vời.

--------------------

Sau đây, mời quý vị tham khảo một lá đơn về một sự việc tương tự. Đây là một vụ việc hoàn toàn có thật, người làm đơn tố cáo là thân chủ của tôi. Vụ án này sau đó đã chuyển lên TAND TP.HCM thụ lý và đã xét xử xong ở cấp phúc thẩm là TAND tối cao. Riêng nội dung tố cáo trong lá đơn này thì đã chìm vào "im lặng", không có ai trả lời. 

Xin nói rõ tôi công khai lá đơn này hoàn toàn không nhằm mục đích khơi lại chuyện cũ làm gì, mà muốn xem là một tài liệu tham khảo - về mặt khoa học pháp lý trong tố tụng dân sự. Qua đó góp phần phản ánh và minh họa rõ hơn phần nào thực trang ngành tòa án trong giai đoạn hiện nay.

----------------------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TP. HCM, ngày 10 tháng  09  năm 2008

ĐƠN TỐ CÁO 
   (V/v: Bà thẩm phán V. dù biết rõ vẫn cố tình ban hành 2 quyết định trái luật, 
làm thiệt hại nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của tôi )

Kính gửi: CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH
 VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH
 CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

Tôi tên: PHẠM THỊ BÍCH H. sinh 19...
Ngụ tại : XXX Trần Quang Diệu, phường 14, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.

Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà” giữa nguyên đơn bà PHẠM THỊ KIM CH.,  bị đơn ông PHẠM HOÀNG L.

Vụ án này được TAND Quận Gò Vấp thụ lý từ tháng 8-2007 do thẩm phán V. phụ trách giải quyết. Tháng 6-2008 vừa qua, thẩm phán V. đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án này mà không hề thông báo cho tôi biết. Qua đó, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi.

Nay tôi làm đơn tố cáo bà V. thẩm phán TAND Quận Gò Vấp về hành vi "Ra quyết định trái pháp luật”, vì đã cố tình vi phạm nghiêm trọng các qui định về thủ tục tố tụng. Cụ thể là:

1. Ra Quyết định đình chỉ vụ án và Quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật. 

2. Ra quyết định đình chỉ vụ án mà không thông báo cho Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Qua đó đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi.

Sự việc như sau:

1. Việc tôi kiện ông bà Phạm Hoàng L.

Tháng 5/2005, tôi cho vợ chồng ông bà Phạm Hoàng L. vay 600 triệu đồng để mua căn nhà XXX Quang Trung, P.12, Q. Gò Vấp. Do ông bà L không trả tiền nên tháng 10-2006 tôi đã kiện ra Tòa án Quận Gò Vấp. Thẩm phán phụ trách giải quyết vụ này là bà L.

Qua năm 2006, để né tránh việc trả nợ, ông L đã viết giấy tay bán cho bà Phạm Thị Kim Ch căn nhà nói trên. Tôi đã làm đơn yêu cầu Tòa ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, để ngăn chặn việc bán nhà này.

* Quá trình giải quyết của toà đã diễn ra như sau:

Ngày 20-10-2006, TAND Quận Gò Vấp có Quyết định 08/2006/QĐ-ADBPKCTT cấm ông bà L chuyển dịch quyền sở hữu căn nhà số XXX Quang Trung.

Ngày 15-11-2006, vì ông L chấp nhận ký quĩ 200 triệu đồng, nên , TAND Quận Gò Vấp ra Quyết định số 01/2006/QĐ-ADBPKCTT, chấm dứt hiệu lực quyết định số 08/2006/QĐ-ADBPK.

Sau đó, vì tôi có bằng chứng chứng minh ông L nợ tôi trên 300 triệu đồng, nên Tòa yêu cầu ông L phải đóng tiền bổ sung. Ông L khi đó đã xin rút lại số tiền ký quĩ 200 triệu đồng.

Ngày 17-11-2006, TAND Quận Gò Vấp ra Quyết định 11/2006/QĐ-ADBPKCTT tiếp tục cấm ông bà L chuyển dịch quyền sở hữu căn nhà XXX Quang Trung.

Ngày 13-8-2007, TAND quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm tuyên buộc ông bà L phải trả cho tôi 359 triệu đồng. Trong bản án sơ thẩm ghi: “tiếp tục duy trì Quyết định số 08/2006/QĐ-ADBPKCTT ngày 20-10-2006 đến khi thi hành án xong”. Ông L đã kháng cáo.

Ngày 25-10-2007, TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm số 1201/2007/DSPT, tuyên huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm vì Tòa sơ thẩm không triệu tập bà Phạm Thị Kim Ch với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là sai, giao hồ sơ cho TAND quận Gò Vấp giải quyết theo đúng quy định.

Riêng đối với Quyết định 11/2006 (về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời), Toà phúc thẩm nhận định như sau: “Lẽ ra khi tuyên án, Toà án phải duy trì Quyết định số 11/2006/QĐ-ADBPKCTT ngày 17-11-2006 chứ không phải Quyết định số 08/2006/QĐ-ADBPKCTT ngày 20-10-2006 vì Quyết định số 08 không còn hiệu lực bởi đã được thay thế bằng Quyết định số 01/2006/QĐ-ADBPKCTT ngày 15-11-2006”

Như vậy, theo Toà phúc thẩm việc tiếp tục giữ nguyên hiệu lực của Quyết định số 11/2006/QĐ-ADBPKCTT ngày 17-11-2006 là cần thiết. Trong bản án phúc thẩm không hề có câu chữ nào nói rằng cần phải hủy bỏ Quyết định 11/2006.

Ngày 20-12-2007, tôi nhận được “Thông báo về việc thụ lý án” của TAND Quận Gò Vấp do thẩm phán V ký – thông báo vụ án tôi kiện ông L đã được chuyển về lại tòa Gò Vấp để giải quyết.

Đến ngày 28-12-2007, thẩm phán V bất ngờ ra Quyết định số 02/2007/QĐ-BPKCTT, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với Quyết định số 11/2006 ngày 17-11-2006.

Tiếp đó chỉ  mấy ngày sau, ngày 31-12-2007, lấy lý do xét thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án quận Gò Vấp, nên thẩm phán V tiếp tục ra Quyết định 731/2007/QĐ-ST-DS chuyển hồ sơ vụ án cho TAND quận 3 - là nơi bị đơn có địa chỉ thường trú.

Tôi cho rằng việc thẩm phán V ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là vi phạm nghiêm trọng các qui định về tố tụng. Vì lẽ:

- Không chấp hành sự hướng dẫn của án phúc thẩm. Trong khi toà phúc thẩm yêu cầu là giữ lại quyết định 11/2006/QĐ-ADBPKCTT thì thẩm phán V lại làm điều ngược lại là huỷ bỏ quyết định này.

- Với việc huỷ bỏ Quyết định số 11/2006/QĐ-ADBPKCTT, thẩm phán V đã tạo điều kiện để bị đơn là ông L bán nhà, trốn tránh trách nhiệm trả nợ.  Thẩm phán V biết rõ điều này nhưng vẫn làm.

- Điều đáng nói nhất là thẩm phán V đã ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật.

Điều 122 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:  Toà án ra quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi có một trong các trường hợp sau đây:

-  Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị huỷ bỏ;

- Người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;

-  Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Bộ luật dân sự.

Trong vụ án này, việc Tòa ra quyết định khẩn cấp tạm thời ngăn chặn việc ông bà L bán nhà là theo yêu cầu của tôi. Tôi đã phải đóng tiền thế chấp yêu cầu của mình mới được thực hiện. Vậy mà trong khi Tòa phúc thẩm đã nêu rõ là cần phải giữ nguyên biện pháp khẩn cấp tạm thời đang áp dụng và bản thân tôi không hề có yêu cầu hủy bỏ thì bà thẩm phán V đã bất chấp các qui định như trên, cố tình ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, theo hướng có lợi cho bị đơn.

Ngày 9-1-2008, tôi có làm “Đơn khiếu nại khẩn cấp” gửi Chánh án tòa án Q. Gò Vấp. Ngày 10-1-2008, Chánh án tòa án Q. Gò Vấp có Quyết định 01/2008 giải quyết khiếu nại của tôi. Theo đó cho rằng “ Việc thẩm phán V ra quyết định hủy bỏ nội dung quyết định 11/2006 là đúng”!

Với cách thức giải quyết bao che như vậy, hậu quả đã xảy ra: ngày 4-3-2008, ông L đã ra Phòng công chứng số 7 làm thủ tục bán căn nhà XXX Quang Trung cho ông Nguyễn Hoàng Ch (cũng chính là chồng bà Phạm Thị Kim Ch trong vụ án này).

2. Tôi là “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” trong vụ án bà Ch kiện ông Phạm Hoàng L nhưng không hề được thông báo về việc đình chỉ vụ án:

Như tôi đã trình bày ở trên, qua năm 2006, để né tránh việc trả nợ, ông L đã viết giấy tay bán cho bà Phạm Thị Kim Ch căn nhà nói trên.

Sau đó, vì bị tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, ngăn chặn việc mua bán nên bà bà Ch đã kiện ông L ra tòa. Vụ án được Tòa án Gò Vấp thụ lý, thẩm phán V chính là người phụ trách giải quyết vụ án này.

Ngày 10-8-2007, tôi đã có ‘Đơn xin tham gia vụ kiện” đề nghị được tham gia vào vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – vì căn nhà mà bà Ch mua của ông L đang có quyết định cấm dịch chuyển quyền sở hữu theo yêu cầu của tôi như đã nói trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán V đã nhiều lần gửi giấy triệu tập tôi tham gia vụ kiện để “hòa giải”, “giải quyết vụ án” … với tư cách là “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Như vậy, trong cùng một lúc, thẩm phán V là người trực tiếp phụ trách cả hai vụ kiện:

Vụ 1: Tôi kiện ông L, bà Phạm Thị Kim Ch là “người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan”

Vụ 2 : Bà Ch kiện ông L, tôi là “người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan”

Và cả hai vụ án đều liên quan đến căn nhà XXX Quang Trung, và căn nhà này đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấm mua bán, dịch chuyển – theo đơn yêu cầu của tôi với tư cách là nguyên đơn. Là người trực tiếp phụ trách, bà thẩm phán V hiển nhiên biết rõ việc này hơn ai hết.

Thế nhưng trong quá trình giải quyết 2 vụ án nói trên, mặc dù tôi đã có đơn đề nghị nhập vụ án, nhưng bà thẩm phán V đã làm những việc sau:

- Ra quyết định hủy bỏ Quyết định 11/2006, tạo điều kiện cho ông L tẩu tán tài sản. Kết quả là dẫn đến việc tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà giữa bà Ch - ông L coi như đã được giải quyết xong. Hai bên tiếp tục thực hiện việc mua bán.

- Sau đó, bà V ra quyết định đình chỉ vụ án  - mà không hề hỏi ý kiến của tôi hay thông báo gì cho tôi với tư cách là “người liên quan”.

Do vậy, từ tháng 3 -2008, tôi đã làm đơn tố cáo thẩm phán V gửi đến Chánh án TAND quận Gò Vấp. Nhưng nơi đây cố tình im lặng không trả lời. Chỉ sau khi tôi có đơn gửi tới Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh thì mới được trả lời. Đó là mới đây, ngày 20-8-2008 tôi nhận được Thông báo số 6/TB của Chánh án TAND quận Gò Vấp. (Điều đáng nói là thông báo lại cố tình ghi lùi thành ngày 9-7-2008 để khỏi bị Tòa thành phố khiển trách và làm ra vẻ nhiệt tình giải quyết).

Trong Thông báo này, chánh án TAND Gò Vấp đã "bao biện" cho bà thẩm phán V, đại ý như sau:

Việc tôi tham gia vào vụ án bà Ch kiện ông L với tư cách là người có quyền lợi liên quan vì tôi đã có đơn ngăn chặn việc chuyển quyền sở hữu theo quyết định số 11/2006/QĐ-ADBPKCTT ngày 17-11-2006. Nhưng sau đó quyết định này bị huỷ bỏ do không đúng thẩm quyền cho nên kể từ lúc huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2006/QĐ-ADBPKCTT thì tôi không còn liên quan đến vụ án nữa. Do vậy, không cần phải thông báo cho tôi về việc ra quyết định đình chỉ vụ án.

Tôi không hiểu dựa vào đâu mà chánh án tòa lại có cách trả lời kỳ lạ và vô lý như vậy. Vì những lẽ sau :

Theo Điều 62 và 58 Bộ Luật tố tụng dân sự quy định người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nhưng không hề có qui định nào nói rằng sau khi biện pháp khẩn cấp tạm thời bị hủy bỏ (chưa kể là hủy bỏ sai) thì tôi không còn là liên quan nữa. Vì quyền lợi của tôi vẫn còn liên quan cho tới khi vụ án được giải quyết xong. Cụ thể đối tượng liên quan ở đây chính là căn nhà số XXX Quang Trung.

Tôi cho rằng việc thẩm phán V ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà không hề thông báo cho tôi biết – với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan, là vi phạm nghiêm trọng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trên thực tế, từ việc này mà hậu quả đã xảy ra, ông L đã bán được căn nhà.

Qua diễn biến vụ việc như vậy, tôi nhận thấy rằng những việc làm của thẩm phán V không chỉ đơn thuần là chỉ vi phạm về thủ tục tố tụng dân sự , mà còn có dấu hiệu hình sự. Cụ thể là tội “ra quyết định trái pháp luật”, qui định tại Điều 296 Bộ luật hình sự. Vì những lẽ sau:

- Thẩm phán V là người giải quyết cả 2 vụ án, do vậy đương nhiên có quyền xét xử đối với cả hai vụ án này.

- Thẩm phán V hoàn toàn biết rõ  cả hai vụ kiện đều có liên quan đến căn nhà XXX Quang Trung những vẫn cố tình ban hành các quyết định trái luật như tôi đã trình bày ở trên.

- Từ hành vi sai trái của bà thẩm phán V, hậu quả đã xảy ra, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi.

Kính mong Quí cơ quan xem xét và giải quyết theo qui định của pháp luật. Xin chân thành cảm ơn.

Người tố cáo  
Phạm Thị Bích H (đã ký)

--------------------

Tố tụng