Monday, November 10, 2014

Quyền tiếp cận thông tin: Không thể "mật hóa" tràn lan

Luật sư Trần Hồng Phong

BLA: Gần đây, tôi có được mời tham gia nghiên cứu/viết bài về vấn đề Quyền tiếp cận thông tin và hoạt động báo chí tại Việt Nam - theo một đề án do Ngân hàng thế giới (WB) đang triển khai. Cụ thể, tôi được đề nghị trình bày về vấn đề tài liệu mật và sự liên quan đến hoạt động báo chí. Dưới đây là bài phát biểu của tôi tại buổi tọa đàm được tổ chức ngày 7-11-2014 vừa qua. Lưu ý đây là bài phát biểu, nên lối hành văn hơi khác một bài viết thông thường. Buổi tọa đàm này cũng được báo Pháp luật TP.HCM có bài tường thuật ngắn ở đây: Cần luật hóa quy định về tài liệu mật.

Thông tin bảo mật Nhà nước  
& những bất cập liên quan đến hoạt động báo chí 

I. Vấn đề bảo mật thông tin, thông tin mật & nhu cầu tiếp cận thông tin: 

- Quốc gia nào cũng có những tài liệu, thông tin có tính chất mật, không thể công khai tại một thời điểm - vì có thể phương hại đến an ninh, lợi ích quốc gia. Tại VN, tài liệu/thông tin xác định là mật thì bị cấm tiếp cận, lưu trữ/ bảo mật nghiêm ngặt.

- Gần đây, Chính phủ đã bổ sung vào Danh mục tài liệu xếp loại mật và tối mật khá nhiều, đột biến. Cụ thể, tháng 9,10/2014 vừa qua:

- Danh mục bí mật nhà nước độ tuyệt mật, tối mật của Ban kinh tế TW đảng.

- Danh mục bí mật nhà nước độ tuyệt mật, tối mật của ngành LĐTBXH.

Qua 2 danh mục trên, có thể thấy hầu như tất cả những gì liên quan đến Ban kinh tế TW đều là tuyệt mật, tối mật. Trong ngành LĐTBXH cũng vậy, bao trùm hầu hết các lĩnh vực của ngành này.

Tức là công dân nói chung, nhà báo nói riêng nay không được tiếp cận, sử dụng những thông tin nằm trong 2 danh mục trên. Nếu so sánh với những quy định trước thời điểm ban hành 2 quyết định trên, “miếng bánh thông tin” bị cắt/giảm đáng kể. Và cũng đáng lo ngại.

Trong khi đó, quy định về việc mở, công khai, tiếp cận thông tin thì không có chuyển biến theo hướng công dân được biết nhiều hơn.  Trong khi  tiếp cận thông tin là một quyền – được quy định trong Hiến pháp.

Đảng hay nói: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Nhưng hình như mới chỉ có "làm"!

Vấn đề tôi quan ngại và muốn phản ánh là:

- Quy định về bí mật nhà nước/thông tin mật hiện nay chưa hợp lý, chưa khoa học.

-  Quyền tiếp cận thông tin của công dân/báo chí đang ngày càng bị thắt chặt, hạn chế.

- Có thực trạng lạm dụng, lợi dụng quyền lực để mật hóa những thông tin/tài liệu thực chất không phải và không có ý nghĩa là mật.

- Nguy hiểm hơn, có thể tạo ra nhóm lợi ích, lũng đoạn, bưng bít và thậm chí kinh doanh thông tin. Và qua đó, trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, đất nước.

II. Quy định về tài liệu mật của Nhà nước còn nhiều bất cập, chủ quan:

1. “Mật” là do con dấu?

Đầu năm 2005, có một vụ án liên quan đến hoạt động báo chí và “tài liệu mật”, vụ phóng viên Lan Anh báo Tuổi Trẻ.

Tháng 3-2005, CQĐT Bộ CA có Kết luận điều tra, đề nghị VKSNDTC truy tố phóng viên Lan Anh về hành vi “chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước” theo điều 263 Bộ luật hình sự. Lý do: một mẩu tin ngắn của phóng viên Lan Anh đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 20-5-2004, có nội dung cho biết Bộ Y tế "đề nghị thanh tra toàn diện Công ty Zuellig Pharma" – một công ty vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có dấu hiệu sai phạm. Nội dung bản tin này xuất phát từ một công văn do Bộ trưởng Bộ Y tế ký trước đó.

Cơ quan công an xác định công văn của Bộ Y tế thuộc Danh mục tài liệu bí mật nhà nước. Do vậy, hành vi của phóng viên Lan Anh là hành vi phạm tội.

Đến tháng 4-2005, VKSNDTC có QĐ đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với phóng viên Lan Anh.
Theo quan điểm của cơ quan này, thì:

- Tại thời điểm người nhân viên văn phòng Bộ Y tế photo công văn cho PV Lan Anh công văn chưa được đóng dấu “mật”. Vì vậy không đủ căn cứ pháp lý để kết luận phóng viên Lan Anh có hành vi “Chiếm đọat tài liệu mật nhà nước”.

- Việc PV Lan Anh thu thập tài liệu viết bài với động cơ muốn thông tin kịp thời những chủ trương mới của Bộ Y tế nhằm bình ổn giá thuốc tại thời điểm mà dư luận xã hội đang quan tâm” không phải là động cơ xấu. Không cần thiết phải xử lý hình sự.

Từ sự việc trên, cho thấy có nhiều bất cập. Đó là:

- Văn bản Nhà nước “mật” hay không “mật” có thể chỉ là do có đóng dấu “mật” hay không.

- Cùng một nội dung, nhưng cách đánh giá/nhận thức của hai cơ quan nhà nước có thể khác, thậm chí trái ngược nhau.

- Về mặt nội dung, những vấn đề nêu trong công văn – thực chất là một văn bản hành chính thuần túy, diễn ra hàng ngày. Nội dung không có gì đáng giữ bí mật, việc “tiết lộ” không gây hại gì cho Nhà nước và có thể là vấn đề “dư luận xã hội đang quan tâm” – như quan điểm của VKSNDTC.

2. Mật do chủ thể ban hành

Đầu tháng 10/2014, Chính phủ ban hành một quyết định quy định hầu như tất cả những tài liệu do Ban kinh tế Trung ương đảng ban hành đều được xem là tài liệu “mật” hay “tối mật” của Nhà nước.
Danh mục tài liệu được xếp là “tối mật” của Ban Kinh tế Trung ương bao trùm đến mức quá chặt chẽ, “khắc nghiệt”. Cụ thể bao gồm (trích):

1. Tài liệu, nội dung làm việc của Ban Kinh tế Trung ương với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các đồng chí lãnh đạo đảng, nhà nước, chính phủ có liên quan đến các chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội.

2. Hồ sơ, tin, tài liệu liên quan đến việc thẩm định các đề án kinh tế - xã hội trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư chưa công bố hoặc không công bố.

3. Văn bản tham gia ý kiến của Ban Kinh tế Trung ương đối với các chủ trương, chính sách, các dự án lớn về kinh tế - xã hội trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư chưa công bố hoặc không công bố.

5. Các ý kiến tham gia góp ý của Ban Kinh tế Trung ương với các cơ quan có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý thuộc khối kinh tế - xã hội. 

Qua đó, thấy rằng:

- Bất kỳ tài liệu nào, hễ do chủ thể là Ban kinh tế Trung ương ban hành thì đều là tài liệu “mật”, “tối mật”.

- Tức là tính chất “mật” của tài liệu không phụ thuộc vào nội dung thông tin, mà phụ thuộc vào chủ thể ban hành.

Điều này thực sự rất đáng băn khoăn, thậm chí là quan ngại.

Vì những vấn đề về kinh tế - xã hội, chẳng hạn như chỉ tiêu tăng trưởng, nợ công, tình hình khó khăn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước …vv - đều là những vấn đề thuộc dạng thông tin cơ bản phổ biến, thậm chí về nguyên tắc bắt buộc phải công khai cho QH, người dân được biết để giám sát.

VD trường hợp quy định về "Bản tin nợ công":

Ngày 14/7/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 79/2010 về quản lý nợ công, trong đó có quy định về việc công khai thông tin nợ công.

Cụ thể, Bộ Tài chính công khai, cung cấp thông tin về tình hình vay, trả nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh; vay, trả nợ nước ngoài của quốc gia - thông qua hình thức phát hành Bản tin về nợ công. (6 tháng một lần, đăng trên Trang điện tử của Bộ).
Trên thực tế, Bộ TC chỉ phát hành được 2 số (số gần nhất tháng 10-2013), tới nay đã đã hơn 1 năm và trễ hạn 2 kỳ, chưa ra số mới.

Nay, với quy định mọi tài liệu của Ban kinh tế Trung ương đều mật – phải chăng người dân đã bị cắt quyền tiếp cận thông tin về nợ công? (Thông tin thật – chứ không phải dạng thông tin soạn theo kiểu diễn văn, mâu thuẫn số liệu giữa các ngành với nhau).

Mấy ngày trước, đại biểu QH Lê Thị Nga đã phát biểu: “Quốc hội và Người dân bị "đứng ngoài" quy trình vay vốn ODA”. Tức là ngay QH cũng bị bưng bít, không được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác!

3. “Mật” ngay cả những vấn đề không đáng mật:

Cũng trong tháng 10/2014, Chính phủ ban hành Danh mục những tài liệu được xếp loại “mật” và tuyệt mật của ngành LĐTBXH. Trong danh sách này, người ta thấy những tài liệu sau là mật: (trích)

1. Nội dung các cuộc đàm phán thuộc lĩnh vực lao động, người có công chưa công bố hoặc không công bố;

2. Tình hình và số liệu tuyệt đối, không công bố hoặc chưa công bố về: Người hoạt động cách mạng trước ngày khởi nghĩa tháng 8 năm 1945; liệt sỹ; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;.. 

3. Tin, tài liệu và số liệu mộ liệt sỹ, công trình ghi công liệt sỹ không công bố hoặc chưa công bố;

Qua đó, sau bao nhiêu năm không bị xem là mật, nay những thông tin về mộ liệt sỹ, công trình ghi công liệt sỹ, tên liệt sỹ, người hoạt động cách mạng trước 1945 …vv cũng đã được xem là “mật”, “tuyệt mật”.

Theo quan điểm của tôi, trừ những trường hợp liên quan đến hoạt động tình báo, đến quan hệ quốc tế, thì những thông tin như nêu trên không nên xem là tài liệu mật.

Nếu Nhà nước ngăn cản công bố hay tìm hiểu, xác minh thông tin về  người có công cách mạng, liệt sỹ … thì trong một số trường hợp còn là sự thiếu đạo nghĩa, hạn chế quyền truy tìm nhân thân, vinh danh người có công với đất nước.

4. Nhà nước chưa công bố là “mật” và vấn đề giải mật 

Qua đó, còn thấy là hầu như những tài liệu chưa công bố của đảng và Nhà nước hầu như đều được xem là mật hay tối mật – mà không cần giải thích vì sao, nguyên nhân gì, bất kể nội dung là vấn đề gì.

Một vấn đề cần đặt ra là mối quan hệ giữa việc “chưa công bố” (là tài liệu mật) và vấn đề “giải mật” thông tin lưu trữ của đảng và Nhà nước.

Theo quy định tại Luật lưu trữ (có hiệu lực từ 1-7-2012), thì:

Điều 30. Sử dụng tài liệu lưu trữ tại Lưu trữ lịch sử

4. Tài liệu lưu trữ thuộc Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật được sử dụng rộng rãi trong các trường hợp sau đây:
a) Được giải mật theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; - hiện nay chưa có quy định cụ thể, luật hóa
b) Sau 40 năm, kể từ năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu mật nhưng chưa được giải mật;
c) Sau 60 năm, kể từ năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu tối mật, tuyệt mật nhưng chưa được giải mật. 

Ví dụ minh họa: Cuộc Triển lãm Cải cách ruộng đất tháng 9/2014 mới đây.

Báo chí đồng loạt đưa tin về cuộc triển lãm về "Cuộc cách mạng Cải cách ruộng đất" (CCRĐ) tại Hà Nội - do Đảng tiến hành trong thời gian 1945-1956. Theo phía Nhà nước, mục tiêu của cuộc triển lãm là giúp người dân "có cái nhìn đa chiều" về CCRĐ - mà theo đảng, là một "thành tựu ", nhưng cũng "có những sai lầm".

Tuy nhiên, chỉ sau vài ngày thì cuộc triển lãm bị đóng cửa không kèn không trống. Lý do nêu ra rất buồn cười là: “hệ thống điện trong phòng triển lãm bị hỏng”.

Với việc đóng cửa như vậy – công dân/báo chí bị cắt quyền tiếp cận thông tin.

Trong khi trong Luật lưu trữ quy định: những tài liệu “mật” hay “tối mật” thì vẫn được sử dụng rộng rãi - tức là có quyền tiếp cận - trong vòng 40-60 năm. Tức là hiện nay, nếu theo luật – thì đảng, Nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp.

5. Quan chức, cơ quan Nhà nước có quyền hành quá lớn trong việc xác định và ban hành tài liệu thuộc danh mục bảo mật Nhà nước

Vấn đề thẩm quyền xác định và ban hành quy định những thông tin nào là mật và bảo mật hiện nay có nhiều bất cập, thiếu khoa học và thậm chí quyền hạn của quan chức và cơ quan hành chính Nhà nước vượt quá những quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành.

Theo quy định tại Điều 6 Pháp lệnh bảo vệ bảo mật Nhà nước (2000) thì:

- Chính phủ là cơ quan duy nhất có quyền ban hành quy định về Danh mục tài liệu mật, tối mật.

- Và danh mục này lại dựa theo đề nghị từ các Bộ, ngành liên quan – đối với những văn bản, tài liệu do chính cơ quan này ban hành.

Dẫn đến tình trạng:

- “Vừa đá bóng vừa thổi còi”.

-  Có thể lạm dụng, lạm quyền cái gì cũng có thể là mật. Mà hậu quả là sự cát cứ, bưng bít thông tin – theo hướng có lợi cho mình.

- Các cơ quan hành chính có chức năng quản lý, điều hành thông qua các quyết định hành chính – trực tiếp liên quan đến đời sống xã hội, người dân, doanh nghiệp. Nhìn chung, những quyết định, văn bản hành chính vì thế không thể và không phải là tài liệu mật.

- Bộ lại có quyền và đưa những văn bản hành chính của mình vào danh mục tài liệu mật chính là có quyền “mật hóa” những mối quan hệ hành chính – dân sự thông thường.

III. Vấn đề bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật:

1. Những tác động tiêu cực do bưng bít, mật hóa thông tin:

- Báo chí là cơ quan thông tin, mà thiếu, nghèo nàn thông tin – trực tiếp dẫn đến hậu quả quyền tiếp cận thông tin của người dân bị hạn chế.

- Việc “bưng bít”, mật hóa thông tin còn là sự thiếu minh bạch của Nhà nước, chỉ làm cho nhu cầu “khát” thông tin ngày càng tăng. Nỗi hồ nghi và niềm tin vào chế độ giảm sút, tác động tiêu cực đến tình hình chính trị - xã hội.

- Còn là điều kiện/cơ hội làm nảy sinh tiêu cực, lạm quyền trong bộ máy Nhà nước.

2. Một vài kiến nghị:

Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên:

- Bổ sung, hoàn thiện Hệ thống pháp luật – an toàn và công bằng. Trên cơ sở bảo đảm được sự công bằng và minh bạch, quyền tiếp cận thông tin của công dân.

- Nội hàm về thông tin bảo mật của Nhà nước (như quy định trong Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước hiện nay có nội hàm quá rộng, chung chung. Dẫn đến việc người có quyền có thể hiểu theo hướng có lợi cho mình, đặt lợi ích của Nhà nước, đảng lên trên lợi ích dân tộc.

Ví dụ: Thông tin một quan chức cấp cao có dấu hiệu tham nhũng – nếu mật, thì phải chăng là sự bao che?

- Cần phân loại, xếp loại thông tin bảo mật theo nội dung/nội hàm, theo thời điểm – chứ không theo chủ thể ban hành.

- Sớm ban hành Luật tiếp cận thông tin.

- Quy định và hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về giải mật (thời gian, hình thức).

- Có biện pháp chế tài cơ quan, cá nhân cố tình trì hoãn, không cung cấp, không giải mật.

- Xác định lại thẩm quyền và nguyên tắc xác định tài liệu mật – theo hướng trao quyền cho Quốc Hội. Vì QH là cơ quan quyền lực cao nhất, làm luật, giải thích luật.

 - Ngăn chặn xu hướng mật hóa tràn lan, bãi bỏ những quy định/danh mục mật không hợp lý, trái luật, trái Hiến pháp.

--------------

Quy định tại Hiến pháp 2013:

Điều 14  

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.


Điều 25  

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 28  

1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.
2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

---------------------------------------------

Cập nhật 13/8/2015:

BLA: Bài dưới đây đăng trên báo Pháp luật TP.HCM, cùng một vấn đề:

Đụng cái là ‘mật’, sao dân tiếp cận thông tin?

Thứ Năm, ngày 13/8/2015 - 07:25

(PL)- Đề nghị sớm ban hành Luật Bảo vệ bí mật theo hướng “xem xét, sửa đổi các danh mục bí mật nhà nước nhằm mở rộng công khai”.

Hôm qua (12-8-2015), Ủy ban Thường vụ Quốc hội (QH) lần đầu tiên cho ý kiến về dự án Luật Tiếp cận thông tin, kể từ khi dự luật này được đề nghị xây dựng (năm 2008). Nhiều ý kiến đề nghị luật này phải là nền tảng pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân được tiếp cận những thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống của mình.

“Luật không phải để bó buộc dân thêm”

Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của QH Trương Thị Mai cho rằng cách thiết kế dự thảo luật dường như đang chia cắt việc cung cấp thông tin, gây khó khăn cho người dân tiếp cận những thông tin họ quan tâm. Trong khi đó, nhu cầu người dân muốn tiếp cận thông tin là rất lớn, nhất là những thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân như thông tin về dịch bệnh, thông tin về khu đất, về những dự án quanh nơi họ đang sống… “Do vậy, luật phải tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tiếp cận thông tin, phục vụ cho đời sống của họ” - bà Mai nói. Bà Mai cũng đề nghị cơ quan soạn thảo luật cần thiết kế một thiết chế để xã, phường có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn người dân vì khi cần thông tin gì phần lớn người dân sẽ đến xã, phường để hỏi.

Cùng quan điểm trên, Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu nhấn mạnh: “Làm luật này là để tạo thuận lợi cho người dân chứ không phải bó buộc dân thêm”. Ông Lưu cũng đề nghị phải làm rõ trách nhiệm của các cơ quan cung cấp thông tin, tức “làm sao xử lý những trường hợp người dân đến yêu cầu trả lời thông tin đơn giản, phải được trả lời”. Đồng thời phải chỉ rõ ai là đại diện cho cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin - người phát ngôn hay bộ phận tiếp dân, để người dân biết để tìm đúng địa chỉ hỏi thông tin họ cần.

Sẽ rà soát, công khai danh mục bí mật nhà nước

Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn cho rằng: “Việc quản lý danh mục bí mật nhà nước hiện nay có nhiều bất cập. Việc đóng dấu mật hiện áp dụng tràn lan. Thậm chí thư mời đi họp cũng được đóng dấu mật”. Theo đó, Phó Chủ tịch QH đề nghị rà soát lại các quy định hiện hành về cơ chế cung cấp thông tin, danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư… để đưa ra các quy định rõ ràng, minh bạch trong dự luật này. Ngay cả những nội dung, vấn đề thuộc phạm vi bí mật cũng cần quy định rõ thời gian có thể giải mật để người dân tiếp cận. Ông lấy ví dụ: “Điển hình là chuyện ông Thanh bị bệnh. Tôi nghĩ chuyện sức khỏe của cán bộ không đến mức bí mật. Vì cứ coi là bí mật nên mới sinh ra nhiều chuyện phức tạp, báo chí đưa tin, canh chụp ảnh từ xa, rồi độc quyền ảnh dẫn đến đồn đoán này nọ… Nếu công khai sớm sẽ xua tan những dư luận không cần thiết”.

Cùng quan điểm trên, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và an ninh của QH Nguyễn Kim Khoa cũng cho rằng: “Việc đóng thông tin mật hiện nay rất lôm côm, không rõ ràng. Phải thực hiện lại thì sẽ tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin, cũng dễ cho cả cơ quan cung cấp thông tin”.

Về vấn đề này, báo cáo thẩm tra dự án Luật Tiếp cận thông tin của Ủy ban Pháp luật cho hay Thường trực Ủy ban Pháp luật đề nghị Nhà nước sớm ban hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước để thay cho Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước theo hướng “xem xét, sửa đổi các danh mục bí mật nhà nước nhằm mở rộng công khai”.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý nhấn mạnh: “Đây là luật quan trọng nhằm tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin. Vì thế phải có đợt rà soát, ra được danh mục bí mật nhà nước để công khai cho người dân chứ không để như anh Sơn (Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn) nói đến cái giấy mời cũng đóng dấu mật nữa”.

Do vậy luật phải tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tiếp cận thông tin, phục vụ cho đời sống của họ.


TRỌNG PHÚ