Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Trẻ em - món hàng béo bở của những kẻ bất nhân

Trúc Huỳnh

Nạn mua bán trẻ em tại Việt Nam đang ở tình trạng đáng báo động. Tội ác này đang diễn ra công khai với mức độ, qui mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi, đa dạng. Phải chăng vì hình phạt còn quá nhẹ ?

(ảnh minh họa)
Mẹ bán con qua hợp đồng môi giới

Gần đây, trên các báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ … đều có những bài viết về đường dây mua bán trẻ em tại các bệnh viên ở TP.Hồ Chí Minh, Đà nẵng …

Trên báo Tuổi trẻ ngày 11-10-2010, có phóng sự về một đường dây mua bán trẻ sơ sinh hoạt động ngay trước cổng Bệnh viện phụ sản Hùng Vương (Q.5, TP.HCM). Đường dây này chuyên săn tìm những phụ nữ đang có thai nhưng muốn bỏ con mình để “bán” lại cho các cặp vợ chồng hiếm muộn.
Tội phạm mua bán trẻ em ngày càng tinh vi

Theo bài báo này, một ông “cò” tên ông H. đã khoe đang có khá nhiều “đối tác” đợi chờ đến giờ bên “cho” vượt cạn để “xin” về nuôi với giá “bồi dưỡng” là 15 triệu đồng/trẻ. Việc chung chi tiền và các thủ tục pháp lý đều hoàn toàn qua “cò” tên H. này. Người “xin” nhận con sau khi người “cho” sinh xong và đến ngày xuất viện. Sau đó đường ai nấy đi. Người mẹ thậm chí không cần biết đưa con của mình sẽ đi đi đâu, về đâu, tương lai như thế nào …

Chi tiết hơn, bài báo còn diễn tả rằng sau khi “phi vụ” mua bán con thành công, “cò” H. “hợp thức hóa” đứa trẻ cho người xin con từ khi người phụ nữ mang bầu chuyển dạ. Theo đó tên tuổi, số CMND... người mẹ thật đứa trẻ chính là tên người phụ nữ nhận con.

Như vậy, có thể thấy đường dây tội ác này đã hoạt động rất chuyên nghiệp, có tổ chức. Và số “hàng hóa” trẻ em qua tay chúng chắc chắn không phải là ít.

Thông thường, đứa con là kết quả của tình yêu và là món quả kỳ diệu nhất mà cuộc đời ban cho người phụ nữ. Có người phụ nữ nào mà không yêu thương đứa con mình mang nặng đẻ đau – như một thiên chức và bản năng tất yếu.

Thậm chí cho dù đứa con là kết quả của một sự lỡ lầm, thì thiên chức làm mẹ của người phụ nữ cũng khó cho phép họ dứt bỏ chứ đừng nói là lạnh lùng bán đi sinh linh do chính mình sinh ra.

Trên thực tế, có không ít những phụ nữ vì hoàn cảnh quá khó khăn, túng quẫn hay thậm chí không thương con – họ có thể “cho tặng” đứa con của mình cho người khác. Tuy nhiên họ không bán con – dù bao nhiêu tiền. Đơn giản là vì đứa con không phải là một món hàng.

Vì vậy, có thể nói những người mẹ nhẫn tâm bán con ngay từ khi chưa sinh hạ là rất đáng lên án về mặt đạo đức và không thể thông cảm được. Không chỉ vậy, hành vi bán con còn phạm vào tội hình sự. Đó là tội mua bán trẻ con.

Thật vậy, trong những trường hợp như vậy, việc mua bán chỉ có thể thực hiện với sự đồng thuận cả từ ba phía ( người mẹ - kẻ môi giới và người mua). Trong đó, vai trò của người mẹ là mang ý nghĩa tiên quyết, quyết định.

Tuy nhiên, thật lạ là hầu như tới nay chưa có bà mẹ bán con nào bị truy tố trước pháp luật.

Khi trẻ em là món hàng béo bở

Ngày 24-8-2010 vừa qua, TAND tỉnh Lâm Đồng đã xét xử sơ thẩm và tuyên phạt các bị cáo Trần Văn Hữu và Nguyễn Văn Mạnh lần lượt 8 năm và 3 năm tù về tội mua bán trẻ em.

Từ tháng 10-2007 đến tháng 5-2009, Hữu và Mạnh được thuê làm quản lý và nhân viên Trường Nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật và lang thang cơ nhỡ Tia Sáng ( ở xã Đại Lào, TP Bảo Lộc, nay đã bị giải thể). Tuy không có thực quyền nhưng Hữu vẫn tự phong mình là “Hiệu trưởng” và cùng Mạnh bán ba cháu nhỏ tại trường cho ba trường hợp nhận con nuôi. Số tiền thu về từ việc bán 3 cháu là 60 triệu đồng.

Trước đó, ngày 29-4-2010, báo VnExpress có đưa tin về việc công an Hà Nội phá một đường dây mua trẻ sơ sinh để bán ra nước ngoài, do Nguyễn văn Hải (41 tuổi, ngụ huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) cầm đầu.

Hải đã tìm mua mỗi bé sơ sinh giá khoảng 40 triệu đồng, sau đó đem bán cho những người cần con nuôi để hưởng chênh lệch 10-15 triệu đồng/cháu. Theo kết quả điều tra, 6 em bé đã trở thành "món hàng" trong tay Hải, trong đó có 2 bé bị bán sang Trung Quốc.

Hải bị công an bắt quả tang khi đang lái ô tô đến thị trấn Văn Điển đón Ngô Thị Sang (em vợ) từ Gia Lai ra Hà Nội bế theo một trẻ sơ sinh khoảng 10 ngày tuổi. Tại cơ quan điều tra, Hải khai mua đứa trẻ này ở TP HCM với giá 40 triệu đồng nhờ sự "giúp đỡ" của một đối tượng tên Trần Thị Phượng Loan (31 tuổi).

Những sự việc như trên hoàn toàn không phải là hiếm. Có thể thấy loại tội ác này đang tồn tại và phát triển cả ở qui mô lẫn mức độ tinh vi, địa bàn phạm tội.

Dưới bàn tay của những kẻ bất nhân này, các cháu bé không gì khác hơn là một món hàng. Một món hàng béo bở.

Cần tăng nặng hình phạt đối với tội mua bán trẻ em

Con người không phải là một món hàng. Vì vậy, từ lâu pháp luật hình sự ở tất cả các nước trên thế giới đều có qui định về tội mua bán con người. Cụ thể hơn là các tội danh như : “mua bán trẻ em”, “mua bán phụ nữ”, “chiếm đoạt trẻ em” (tức là hành vi bắt cóc trẻ em) …

Bộ luật hình sự Việt Nam qui định người nào có hành vi mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào đều bị truy tố và xét xử. Mức hình phạt từ 3 năm đến 10 năm.

Tuy nhiên, vì sao tình trạng mua bán trẻ em không những không giảm đi mà ngày càng có dấu hiệu tăng thêm, phức tạp hơn ? Theo một số chuyên gia pháp lý, hiện nay mức hình phạt đối với tội này còn nhẹ nên chưa có giá trị răn đe, ngăn chặn.

Luật sư Trần Hồng Phong, Đoàn luật sư TP.HCM nêu quan điểm : “ Tôi cho rằng mức hình phạt đối với tội mua bán trẻ em qui định trong Bộ luật hình sự hiện nay là quá nhẹ. Hãy so sánh với hành vi cướp giật tài sản ( dù chỉ là một chiếc nón vải) thì cũng bị phạt tù từ 1 đến 5 năm ở khu khung nhẹ nhất, hay trộm cắp một món đồ trị giá 2 triệu đồng cũng có thể bị xử phạt từ 6 tháng đến 3 năm. Vậy mà một người “lấy cắp” một con người – giá trị vẫn được xem là “vô giá” (không gì đánh đổi được) , rồi bán cho kẻ khác để thu lợi bất chính mà cũng chỉ bị phạt từ 3 năm đến 10 năm (khung nhẹ nhất) – tức trong một số trường hợp có thể được xử “ngang bằng” với hành vi cướp giật nhỏ - là thấp đến mức không thể chấp nhận được. Chúng ta cần phải tăng hình phạt ở khung cơ bản lên. Chẳng hạn mức án nhẹ nhất là 8- 10 năm tù. Chỉ với mức hình phạt thật cao như vậy, thì những kẻ bất nhân hám lợi mới cảm thấy “sợ”.

-------------------

Hàng trăm ngàn trẻ em bị bắt cóc mỗi năm ở Trung Quốc


< Hình ảnh những đứa trẻ bị bắt cóc được trưng bày trên phố

Tờ Thời Báo Hoàn Cầu, phụ bản của Nhân Dân Nhật Báo Trung Quốc mới đây đưa tin khoảng 30 người có con bị bắt cóc từ 12 tỉnh thành đã đổ về Bắc Kinh, Trung Quốc để tìm con.

Họ đã vận động cộng đồng ký tên phản đối nạn bắt cóc trẻ em đang hoành hành ở các vùng nông thôn như một bệnh dịch mà chính quyền địa phương gần như bất lực, nhưng họ đã gặp cản trở từ cơ quan chức năng.

Mang tên Hội Những người có con bị bắt cóc, họ tỏa đi khắp nơi để tìm con và có mặt ở Bắc Kinh từ ngày 27-9, mang theo hình ảnh của 2.710 đứa trẻ dưới 10 tuổi bị mất tích với mong muốn cộng đồng chung tay góp sức tìm kiếm.

Đài truyền hình Phượng Hoàng của Hong Kong cho biết có khoảng 200.000 trẻ bị mất tích mỗi năm ở Trung Quốc. Chỉ có 5.896 trẻ được giải thoát trong chiến dịch 16 tháng chống buôn người do Bộ Công an Trung Quốc phát động bắt đầu từ tháng 4-2009 đến nay. Thời Báo Hoàn Cầu cho rằng con số này là quá ít do hình phạt dành cho tội buôn người ở Trung Quốc còn quá nhẹ (dưới 10 năm tù) nên chưa đủ răn đe loại tội phạm này.

Theo Liên Hiệp Quốc, lợi nhuận năm 2010 của nạn buôn trẻ em đứng hàng thứ ba trên thế giới sau buôn ma túy và vũ khí.

----------------------

Quy định của pháp luật:

Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

1. Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Vì động cơ đê hèn;
d) Đối với nhiều trẻ em;
đ) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
e) Để đưa ra nước ngoài;
g) Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo;
h) Để sử dụng vào mục đích mại dâm;
i) Tái phạm nguy hiểm;
k) Gây hậu quả nghiêm trọng.”

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc phạt quản chế từ một năm đến năm năm.


(Điều 120 Bộ luật hình sự)