Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

Cần bảo đảm tính độc lập và công minh trong xét xử

Luật sư Trần Hồng Phong

BLA: Bài viết này nguyên là ý kiến góp ý của tôi về bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, mà tôi đã ký tên, gửi cho Ban soạn thảo. Tôi cũng đã cố tình không góp ý gì về vai trò lãnh đạo của đảng, mà chỉ tập trung vào lĩnh vực chuyên môn của mình. Một Thư ký tòa soạn một tờ báo lớn tại TP.HCM có đề nghị tôi gửi bài viết này, sau đó gọi điện báo là bài góp ý của tôi sẽ được báo đăng vào ngày X. Tuy nhiên đến ngày X thì không thấy báo đăng. Cũng chẳng được giải thích vì sao. Sau đó, khi bản Hiến pháp 2013 chính thức được Quốc Hội thông qua, không thấy có ý đóng góp nào của tôi được ghi nhận trong đó. Thực ra tôi hiểu rõ là cũng không đơn giản. Nói vui chắc là vì quá dở và chẳng đáng quan tâm! Hì. Tuy nhiên, ý kiến về việc gắn camera tại phòng xử án của tôi thì đã được báo Pháp luật TP.HCM phản ánh (xem bài liên quan bên dưới). 

Tôi quyết định lưu bài viết này ở đây, xem như một tư liệu vậy. Vả lại theo tôi nghĩ, dù sao thì việc bảo đảm và đưa ra những quy định (luật) để bảo đảm tính độc lập, công minh trong xét xử bao giờ cũng là cần thiết.

Ảnh: Nữ thần công lý luôn phải bịt mắt để khỏi nhìn thấy tiền, bảo đảm công bằng, không thiên vị

Với thực tiễn hành nghề luật sư trên 12 năm, tôi nhận thấy mặc dù Hiến pháp đã có qui định tòa án xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, nhưng thực tế không phải như vậy.

Kính gửi: Ban soạn thảo Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 1992

Với thực tiễn hành nghề luật sư trên 12 năm, tôi nhận thấy mặc dù Hiến pháp đã có qui định tòa án xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, nhưng thực tế không phải như vậy.

Tình trạng thỉnh thị, án bỏ túi (duyệt án trước khi xét xử) hầu như công khai và thậm chí trở thành qui chế làm việc trong ngành tòa án. Thẩm phán xét xử sai phạm rất nhiều nhưng không ai xử lý và thậm chí bao che cho nhau vì đương sự chỉ có thể khiếu nại hành chính.

Vai trò quan trọng của Hội thẩm trong hội đồng xét xử mang tính hình thức, bị vô hiệu bởi qui định của ngành Tòa án. Vai trò của luật sư quá mờ nhạt do xét xử thường không tôn trọng và ghi nhận ý kiến luật sư. Phán quyết của Tòa đa phần không dựa vào kết quả tranh tụng mà theo quan điểm chủ quan của thẩm phán. Quyền bào chữa của công dân không được tôn trọng và thực thi đầy đủ. Thời gian xét xử kéo dài vô tội vạ và không có ai chịu trách nhiệm.

Án oan sai, gây tranh cãi, “kỳ án” ngày càng nhiều, niềm tin của người dân vào công lý, vào sự nghiêm minh của pháp luật giảm sút nghiêm trọng.

Với mong muốn góp phần hạn chế những “lỗ hổng” nêu trên, tôi xin góp ý về một số nội dung liên quan đến Quyền công dân và Tòa án trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

I. Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân

Điều 26 dự thảo qui định : “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. 

Tôi đề nghị bổ sung thêm quyền “bày tỏ chính kiến” sau cụm từ “tự do ngôn luận”. Và bổ sung thêm câu “Công dân khi thực hiện những quyền mà Hiến pháp qui định nhưng chưa có luật hướng dẫn thì không bị xem là vi phạm pháp luật”.

Tuy quyền biểu tình đã được đề cập đến trong các bản Hiến pháp trước đây, nhưng suốt mấy chục năm qua vẫn chưa có luật hướng dẫn. Chính vì vậy, có những điều tưởng chừng hiển nhiên, chẳng hạn một số người yêu nước biểu tình, phản đối việc Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ quốc gia - thì lại bị chính quyền địa phương xem là hành vi vi phạm pháp luật. Thậm chí có đài, báo còn phản ánh, kiến nghị xử lý như những kẻ phạm tội. Trong khi đó, nếu việc biểu tình do cơ quan đoàn thể Nhà nước hô hào và tổ chức thì lại được nhiệt liệt khen ngợi!

Chính phủ là cơ quan hành chính nhưng lại ban hành qui định có nội dung cấm đoán quyền biểu tình – trong khi điều này là hoàn toàn vi hiến. Trong bối cảnh như vậy, việc bổ sung qui định “công dân khi thực hiện những quyền mà Hiến pháp qui định nhưng chưa có luật hướng dẫn thì không bị xem là vi phạm pháp luật” là cần thiết nhằm bảo đảm quyền công dân.

Về “quyền bày tỏ chính kiến”, đã là con người thì tất yếu ai cũng có suy nghĩ, quan điểm, nhận thức chính trị của riêng mình. Mỗi người có quyền bày tỏ sự đồng ý hay không đồng ý với một chính sách, hành vi nào đó của Nhà nước, của lãnh đạo. Đồng ý và phản đối là một cặp phạm trù luôn đồng hành, là động lực để tạo ra chuyển biến, phát triển xã hội. Chính chủ nghĩa Mác đã chỉ ra điều này. Thế nhưng hiện nay, một người chỉ cần nêu quan điểm phê bình hay “trái tai” đối với phát biểu của một cán bộ đảng viên cao cấp, thì dù là đúng, vẫn có thể bị qui chụp là “phản động”, “suy thoái đạo đức”. Thậm chí đối xử như kẻ phạm tội. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói hiện nay trong đảng cán bộ suy thoái biến chất là cả một “bầy sâu”. Nhưng nếu câu nói đó là của một công dân bình thường, thì rất có thể sẽ bị truy tố về tội “chống phá Nhà nước”.

Điều 31 qui định: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo”. 

Tôi đề nghị bổ sung thêm vào khoản 1 là “Công dân có quyền phản ánh tiêu cực tới cơ quan báo chí”. Trên thực tế, nhiều trường hợp công dân khiếu nại tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền bị ngâm đơn, thậm chí không giải quyết. Nhiều công ty, cơ quan tổ chức Nhà nước qui định cấm tiếp xúc, cung cấp thông tin cho báo chí nhằm bưng bít tiêu cực. Trong khi đó, hầu hết những vụ tham nhũng, tiêu cực chỉ bị phát hiện sau khi được báo chí đăng tải, phản ánh. Việc qui định công dân khiếu nại tố cáo có quyền phản ánh tới cơ quan báo chí cũng phù hợp với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đã được khẳng định trong Hiến pháp.

Ngoài ra, tôi đề nghị bổ sung thêm vào khoản 2 là việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại tố cáo phải “nhanh chóng và công minh”. Ngoài việc thời gian giải quyết thường rất chậm, phổ biến tình huống thay vì giải quyết, thì lại chuyển đơn qua lại giữa các cơ quan hoặc gửi văn bản xin ý kiến cấp trên. Thể hiện sự thiếu trách nhiệm, thiếu công tâm. Hoặc giải quyết sơ sài, thậm chí bao che sai phạm cho người bị tố cáo.

Điều 32 qui định: “1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. 2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm. 3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa. 4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”.

Tôi có ý kiến như sau:

Khoản 1 cần sửa cấu trúc câu cho chặt chẽ và đúng chính tả hơn và bổ sung như sau “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án đã có hiệu lực pháp luật và được xét xử theo đúng trình tự do pháp luật qui định. Không ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại chính mình trong một vụ án hình sự”.

Mặc dù luật tố tụng hình sự có qui định lời khai nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được xem là chứng cứ khi phù hợp với các chứng cứ khác. Tuy nhiên, thực tế xét xử án hình sự ở nước ta cho thấy nhiều vụ án hầu như chỉ dựa vào lời khai nhận tội của bị cáo là chứng cứ duy nhất, tình trạng trọng cung hơn trọng chứng là phổ biến. Rõ ràng như vậy là không ổn vì không ai lại tự mình kết tội mình, trong khi trách nhiệm chứng minh tội phạm là của cơ quan công tố.

Mặt khác, rất nhiều vụ án dù đã có bản án phúc thẩm (có hiệu lực pháp luật) nhưng ngay từ khi mới ban hành đã cho thấy có hàng loạt điểm sai sót, vi phạm thủ tục tố tụng, dấu hiệu ép cung, không phù hợp với tình tiết khách quan – qua phản ánh của báo chí và dư luận. Do vậy, cần phải bổ sung nội dung “việc xét xử phải đúng trình tự do pháp luật qui định” là cần thiết nhằm vô hiệu những bản án không đúng luật, tránh oan sai, gây hậu quả. (Xin nói thêm là những điều tôi đề nghị bổ sung nêu trên đều được qui định trong Hiến pháp Mỹ và Nga).

Khoản 3 qui định về quyền trợ giúp pháp lý theo tôi là chưa rõ và chưa cụ thể. Trong khi trên thực tế quyền này luôn bị hạn chế, ngăn cản một cách không công bằng và đúng luật bởi các cơ quan tiến hành tố tụng. Tôi đề nghị bổ sung thêm qui định “Người thực hiện lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra phải giải thích quyền được mời luật sư chứng kiến việc bắt và hỗ trợ pháp lý cho công dân”.

Hiến pháp nhiều nước trên thế giới đều qui định khi bắt giữ một người phải có luật sư chứng kiến hoặc giải thích quyền được mời luật sư. Chẳng hạn hiến pháp Nhật qui định “không ai bị giam giữ nếu không được thông báo tội trạng và nếu không có luật sư bênh vực”. Hay như Mỹ, trong luật tố tụng hình sự qui định rõ cảnh sát phải giải thích cho người bị bắt về việc có quyền mời luật sư, quyền khai nhận tội hoặc không khai khi bị bắt.



Mọi phiên tòa xét xử cần phải bảo đảm nghiêm minh, đúng người đúng tội. Tuyệt đối không thể là một "vở kịch" theo sự chỉ đạo của ai đó hoặc bị tác động bởi yếu tố tiêu cực (Ảnh minh họa: một phiên tòa hình sự )

II. Về Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân:

Về tòa án

Điều 107 qui định : “ 1. TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN, thực hiện quyền tư pháp. 2. TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước…”. 

Khoản 1: Tôi đề nghị sửa thành “Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất” . Có thể thoạt nghe thì chữ “duy nhất” là không cần thiết. Nhưng vì thực tế việc giải quyết, và xét xử của Tòa án tại Việt Nam thường có sự can thiệp, thậm chí là chỉ đạo, quán triệt từ những cơ quan, cá nhân ngoài Tòa án. Dẫn đến việc xét xử nhiều khi là một vở kịch, bất chấp kết quả tranh tụng, tình tiết khách quan tại phiên tòa. Hay nói cách khác, tòa án không thực sự là cơ quan duy nhất xét xử.

Khoản 2, tôi đề nghị bổ sung 2 chữ “sự thật”. Thành : “TAND có nhiệm vụ bảo vệ sự thật, công lý, bảo vệ quyền con người …”. Vì “công lý” là một khái niệm trừu tượng, chỉ có sau khi xét xử và có thể thay đổi theo quan niệm, thời gian. Thậm chí nếu Tòa án tiêu cực, thì công lý đồng nghĩa với tiền. Nhiều người nói có tiền là có công lý, có kết quả thắng thua. Điều mà công tác xét xử hướng đến và giải quyết là sự thật. Cần phải tuyệt đối tôn trọng sự thật khách quan, có như vậy có được phán quyết công bằng, đúng pháp luật.

Điều 108, xin trích dẫn theo dự thảo và góp ý theo từng khoản như sau:

Khoản 2 qui định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Tôi đề nghị bổ sung thêm và sửa thành : “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật”. Hiện nay tuy đã có Hiến Pháp, nhưng hệ thống pháp luật của chúng ta chưa đầy đủ và hoàn thiện. Nhiều vấn đề luật còn bỏ ngỏ, thay đổi nhiều lần hoặc thậm chí qui định trái Hiến pháp (vi Hiến). Nếu đã xác định Hiến pháp là nền tảng của pháp luật thì việc qui định Tòa án khi xét xử đặt Hiến pháp lên trên pháp luật để bảo đảm quyền công dân là cần thiết.

Khoản 3 qui định: “Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định”. Tôi đề nghị bổ sung thành: “Tòa án nhân dân xét xử công khai, nhanh chóng và công minh, trừ trường hợp do luật định. Phiên tòa được ghi âm, ghi hình”. 

Hiện nay việc giải quyết và xét xử mọi vụ án hầu như đều kéo dài quá thời gian qui định, thậm chí nhiều lần. Nhiều vụ án mặc dù đơn giản, nhưng bị kéo dài trong nhiều năm trời, trong khi bị can, bị cáo bị tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, phong tỏa tài sản, mất việc làm…vv. Thực trạng án quá hạn không chỉ ảnh hưởng và gây thiệt hại về danh dự, quyền lợi cho công dân mà còn gây thiệt hại, khó khăn cho Nhà nước về quản lý. Có những vụ án dân sự liên quan đến tài sản giá trị lớn, việc kéo dài thời gian giải quyết quá luật định gây thiệt hại và làm phát sinh nghĩa vụ của các bên đương sự lên tới hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng nhưng chẳng có thẩm phán nào chịu trách nhiệm. Cán bộ Tòa án luôn có thái độ bàng quan. (Hiến pháp Mỹ và Nhật đều có qui định việc xét xử phải bảo đảm “nhanh chóng” và “công minh”).

Tôi đề nghị bổ sung “Phiên tòa được ghi âm ghi hình” là vì thực tế hiện nay rất nhiều phiên tòa đã diễn ra một cách vô văn hóa, vi phạm tố tụng. Hội đồng xét xử có thái độ và lời lẽ ngang ngược, dọa nạt, bất chấp lời khai, chứng cứ do các bên và luật sư cung cấp, trình bày tại tòa. Rất nhiều bản án cố tình qua có chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ghi nhận nội dung, lời trình bày không đúng thực tế, kết quả xét xử sai, oan, lệch lạc .… Rất nhiều người sau khi bị xử oan, xử sai đành chấp nhận, chịu thiệt hại mà không biết làm sao vì không có bằng chứng để trình bày (việc ghi âm, chụp hình tại phiên tòa bị thẩm phán cấm). Do vậy, cần phải chính thức qui định việc ghi âm, ghi hình phiên tòa xét xử, để công dân có cơ sở khiếu nại khi bị xử oan, xử ép.

Khoản 5 qui định: “Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa được bảo đảm”. Tôi cho rằng trong xét xử tranh tụng không thể chỉ là “nguyên tắc” mà phải được thực thi và tôn trọng. Bản án, phán quyết của Tòa phải dựa trên cơ sở kết quả của sự tranh tụng giữa các bên và bảo đảm sự bình đẳng. Tôi đề nghị sửa và bổ sung thành: “Phiên tòa xét xử phải bảo đảm sự bình đẳng và dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên”.

Về Viện kiểm sát: 

Khoản 3 Điều 112 qui định: “3. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, quyền con người, quyền công dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. 

Đề nghị bổ sung thêm : “VKS không can thiệp vào việc xét xử”. Theo qui định trong tố tụng dân sự hiện nay, thì VKS tham dự phiên tòa có quyền đề nghị về kết quả xét xử và bình bàn về nội dung vụ án. Điều này là không phù hợp, thực chất là sự “can thiệp” chứ không phải là “giám sát”. Vai trò của VKS như vậy vô tình tạo ra sự bất bình đẳng giữa các bên đương sự và đặc biệt là xâm phạm nguyên tắc tự quyết của công dân trong giao dịch dân sự.

Khoản 2 Điều 114 qui định : “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng VKSND”. 

Tôi đề nghị bỏ cụm từ “chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng”. Vì giống như thẩm phán, kiểm sát viên tham gia tố tụng hiển nhiên phải chịu trách nhiệm về hành vi, ý kiến phát biểu, quan điểm của mình một cách độc lập tại phiên tòa. Việc chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng là quan hệ hành chính nội bộ. Tình tiết và diễn biến của phiên tòa là thay đổi và không thể dự liệu trước, vậy làm sao Viện trưởng biết được mà “chỉ đạo” kiểm sát viên tại tòa? Chẳng lẽ kiểm sát viên lại hoãn phiên tòa, thỉnh thị, xin chỉ đạo? Và như vậy phải chăng thể hiện sự thiếu năng lực chuyên môn, thiếu hiểu biết pháp luật của kiểm sát viên? Chỉ cần qui định “tuân theo qui định của pháp luật” là đủ.

Kính mong được xem xét.

Trân trọng.

Luật sư Trần Hồng Phong

------------------------------

Bổ sung: Dưới đây thêm một bằng chứng về án duyệt, án bỏ túi tại Việt Nam - phản ánh trên báo Thanh Niên ngày 15-9-2014 và trên thực tế điều này không phải là cá biệt:

Yêu cầu làm rõ 'những quy định lạ lùng' của Chánh án TAND TP.Hà Nội

-----------------------

Bài liên quan: