Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

Thi hành án yếu kém làm công lý không được thực thi

Luật sư Trần Hồng Phong

BLA: Bài viết này đã được đăng trên báo từ tháng 5-2008, trước thời điểm Luật thi hành án dân sự được bạn hành. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay (2014) những yếu kém trong lĩnh vực thi hành án dân sự hầu như vẫn còn nguyên đó.

Thi hành án là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong quá trình giải quyết một vụ án. Việc bản án không thi hành được dẫn đến tình trạng công lý không được thực thi, pháp luật mất đi tính nghiêm minh.

Một vụ cưỡng chế thi hành án ( ảnh minh họa)



Thi hành án kém góp phần “vô hiệu” bản án của Tòa

Từ xưa ông bà ta đã có câu “vô phúc đáo tụng đình” để chỉ sự khó khăn, nhọc nhằn của những người phải trải qua việc kiện tụng.

Thực tế hiện nay, từ khi bắt đầu nộp đơn khởi kiện một vụ tranh chấp dân sự, đương sự (người kiện) thường phải trải qua một quãng thời gian khoảng 3-5 năm trời ròng rã (mặc dù trên “lý thuyết” của luật tố tụng thời gian này chỉ khoảng 6 tháng !), với rất nhiều những khoản chi phí từ “chính thức” cho đến “không chính thức” như : tạm ứng án phí, chi phí làm đơn, chi phí luật sư, chi phí đi lại, chi phí “lo” tìm tài liệu, chứng cứ, chi phí “trà nước”, “bồi dưỡng” cho cán bộ viên chức trên những chặng đường có liên quan đến vụ kiện… Những khoản chi phí này thường “ngốn” khoảng từ 10-20% giá trị vụ tranh chấp.

Thế nhưng, có rất nhiều trường hợp dù người đi kiện được Tòa tuyên thắng kiện, nhưng sau khi trải qua hàng năm trời ở cơ quan thi hành án, với những nhọc nhằn, nhiêu khê không kém gì so với giai đoạn xét xử của Tòa án, kết quả mang không gì khác hơn là một con số 0 to tướng. Lý do thật “đơn giản” : … thi hành án không được !

Có thế thấy, kết quả của việc thi hành án bảo đảm tính thực thi của công lý, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, sự yếu kém trong công tác thi hành án - không thi hành được các bản án đã tuyên và đang có hiệu lực pháp luật - đã trực tiếp làm giảm hiệu lực thậm chí “vô hiệu” giá trị “thật” của các bản án, quyết định của tòa án.

Và, chính sự yếu kém đến mức không thể chấp nhận được trong công tác thi hành án như hiện này đã và đang làm cho người dân mất dần đi niềm tin vào pháp luật, vào công lý. Vì một khi đương sự đã chọn tòa án để nhờ giải quyết vụ việc tức là họ có và đặt niềm tin vào pháp luật, vào sự nghiêm minh của pháp luật. Vậy mà pháp luật đã không được thực thi thì niềm tin ấy liệu có còn tồn tại ? Sự yếu kém trong công tác thi hành án gián tiếp tạo ra những “điều kiện” để nạn đòi nợ thuê theo kiểu xã hội đen, nạn đâm thuê chém mướn … có cơ hội tồn tại.

Có nên giao ngành thi hành án cho Tòa án quản lý?

Về nguyên nhân của sự yếu kém trong công tác thi hành án, đại biểu Quốc hội Hồ Quốc Dũng (Bình Định) cho rằng đó là do vị trí của cơ quan thi hành án hiện nay "lửng lơ” không rõ ràng giữa hành chính và tư pháp. Dẫn đến việc chính quyền địa phương không có đủ trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác này. Do vậy, ông Dũng đề nghị giao cơ quan thi hành án cho tòa án quản lý, qua đó sẽ tránh tình trạng cắt khúc, tách rời hoạt động xét xử và thi hành án, gắn trách nhiệm của các thẩm phán với bản án mà họ đã tuyên.

Tôi đồng ý với ý kiến của ông Hồ Quốc Dũng ở chỗ vị trí của cơ quan thi hành án hiện nay chưa hợp lý. Đúng là hiện Sở Tư pháp có chức năng quản lý, theo dõi các hoạt động của cơ quan thi hành án. Thế nhưng, vai trò của sở Tư pháp hết sức mờ nhạt. Thực tế nhiều cơ quan thi hành án phớt lờ sự lãnh đạo của Giám đốc Sở Tư pháp hoặc báo cáo công tác thi hành án qua loa, không đúng với thực tế và lãnh đạo Sở cũng không nắm được tình hình thực tế .

Tuy nhiên, tôi cho rằng việc giao thêm chức năng quản lý cơ quan thi hành án cho Tòa án là không hợp lý. Việc này không những sẽ tạo thêm việc, làm cồng kềnh bộ máy của Tòa án mà còn làm sai lệch chức năng của ngành Tòa án. Chức năng của Tòa án là xét xử. Nếu giao cơ quan thi hành án cho Tòa án thì sẽ dẫn đến tình trạng là một cơ quan vừa xét xử lại vừa “thực thi” bản án do chính mình “làm” ra. Điều này sẽ xâm phạm đến tính khách quan, độc lập trong công tác xét xử, rất dễ bị lợi dụng, lạm dụng theo kiểu “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, bao biện, bao che cho nhau.

Việc khó là do con người

Giải thích về nguyên nhân yếu kém trong công tác của mình, lãnh đạo các cơ quan thi hành án suốt hàng chục năm qua hầu như đều nêu ra những nguyên nhân mang tính khách quan và rất chung chung như :

- Người phải thi hành án không có khả năng thi hành.

- Bản án tuyên không rõ, khó thực hiện việc thi hành.

- Đời sống cán bộ công nhân viên ngành thi hành án thấp, không khuyến khích người tài ...

- Thiếu thốn phương tiện, trang thiết bị làm việc …

Đó là những lý do luôn đúng trong mọi trường hợp và không chỉ riêng gì ở ngành thi hành án. Thực tế ở nhiều nơi, nhiều chỗ hoàn toàn không phải như vậy.

Hiện nay, không ít cán bộ thi hành án không có đủ phẩm chất đạo đức và nhân cách cần có của một con người có tự trọng. Số cán bộ này “vô cảm” trong nhận thức, thiếu trách nhiệm trong công việc. Thậm chí họ coi công việc, coi nhiệm vụ của mình là “phương tiện” để vòi vĩnh, đòi tiền đương sự. Kể cả bên phải thi hành án lẫn bên được thi hành án.

Đã có không ít trường hợp cán bộ thi hành án thay vì phải cưỡng chế thi hành án thì lại đi làm điều ngược lại : “tạo cơ hội”, “giúp sức” để người phải thi hành án tẩu tán tài sản, né tránh trách nhiệm trả nợ. Khi bị đương sự tố cáo, khiếu nại thì lãnh đạo cơ quan thi hành án thay vì cần xem xét, xử lý nghiêm minh thì lại bao che, đổ lỗi do cơ chế hay do sự khiếm khuyết của các văn bản pháp luật.

Là luật sư, tôi từng nghe rất nhiều đương sự kể về việc họ bị cán bộ thi hành án vòi tiền hết sức trắng trợn, thậm chí có trường hợp đòi ăn chia phần trăm ! (lên tới 20% trên số tiền mà họ được thi hành). Để có được các loại giấy “có lợi” cho đương sự như quyết định kê biên tài sản, quyết định ngăn chặn việc bán tài sản, quyết định cấm xuất cảnh … nhiều người đã phải tốn bạc triệu. Hay như đến cả tiền tạm ứng án phí – mà bản án tuyên hoàn trả lại cho người thắng kiện, cũng bị cán bộ thi hành án ăn chặn, làm khó….

Tất nhiên, những sự việc như vậy thường rất khó bị phát hiện và không thể có bằng chứng - do sự khôn ngoan đã đến mức “điêu luyện” của những cán bộ thi hành án mất phẩm chất. ( Hãy hình dung như việc cảnh sát giao thông nhận tiền mãi lộ). Còn đương sự thì cũng vì chút lợi ích của mình mà chấp nhận cảnh “qua sông thì phải lụy đò”, cho xong việc.

Việc một số cán bộ thi hành án, trong đó có cả vị Trưởng Thi hành án dân sự TP.HCM “dính” vào tiêu cực, bị khởi tố trong năm 2007 minh chứng phần nào cho sự thật nêu trên và cũng chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm, gây bức xúc trong dư luận.

Thật kỳ lạ là trong “nhận thức” của không ít cán bộ ngành tư pháp hiện nay, họ nghĩ rằng những công việc mà họ đang làm là sự “ban phát”, “làm phước” cho người khác chứ không phải là nhiệm vụ (?!). Khi đương sự nhận được một khoản tiền từ việc được thi hành án, thì người cán bộ thi hành án có tư tưởng rằng mình đã “giúp” cho đương sự điều đó. Họ thấy rằng đương sự nhận hàng trăm triệu đồng, thì việc chi cho họ vài triệu đồng là chuyện hiển nhiên, như thể không có họ thì làm sao mà có được!

Một trong những lý do làm việc thi hành án khó thực hiện là bản án tuyên không rõ ràng, không thực tế để có thể thực hiện. ( Mà theo báo cáo tại Quốc hội, cơ quan thi hành án đề nghị tòa án giải thích hàng ngàn bản án, nhưng chờ đến 3, 4, 5 năm tòa án vẫn phớt lờ). Điều này là đúng. Nhưng cũng có một thực tế là bản án càng khó hiểu, càng “phức tạp” thì lại càng dễ để những cán bộ thi hành án thiếu phẩm chất … có cơ hội “ăn tiền”, làm khó người dân!

Nói tóm lại, tôi cho rằng nguyên nhân chính yếu nhất chính là ở khâu con người.

Tư nhân tham gia công tác thi hành án – tại sao không?

Tôi cho rằng trong công tác thi hành án, vấn đề quan trọng nhất là hiệu quả chứ không phải là chuyện trước mắt cần khắc phục những khiếm khuyết như : chấp hành viên trình độ chưa cao, lương còn thấp … từ đó hy vọng có thể nâng cao hiệu quả công tác thi hành án.

Thi hành án là chặng cuối cùng trên con đường tìm đến công lý của người dân. Do vậy, về mặt tâm lý hầu như ai cũng muốn công lý sớm được thực thi – tức bản án sớm được thi hành. Do vậy, việc đương sự (dù đã tốn kém không ít) nay tốn thêm một ít nữa để nhờ ai đó hỗ trợ giúp mình “nhận được” công lý là điều mà hầu như không ai từ chối, thậm chí còn mong mỏi được như vậy! ( Còn hơn là thay vì thắng mà chẳng nhận được gì !)

Do vậy, cần nhận thức việc thi hành án là một dạng “dịch vụ thực thi công lý”. Theo đó, người được thi hành án có quyền được lựa chọn một nơi mà họ tin tưởng để ký hợp đồng, qua đó thỏa thuận hoặc chấp nhận trả một khoản chi phí để nhận được kết quả thi hành án. Và việc này tốt hơn hết là cần được luật hóa, công khai và minh bạch. Thay vì phải chi tiền một cách lén lút, phải “hối lộ” - là những hành vi vừa trái pháp luật, vừa chẳng rõ ràng.

Nơi thực hiện công việc thi hành án, nếu hiểu như trên, là một dạng doanh nghiệp, kinh doanh ngành dịch vụ pháp lý. Theo tôi được biết, ở Miền Nam trước năm 1975 từng có hình thức gọi là “thừa phát lại” – đó là các tổ chức của tư nhân, đăng ký hoạt động dịch vụ một số khâu trong hoạt động tư pháp như : tống đạt giấy tờ, kê biên tài sản .. trong đó có việc nhận “thi hành án” giúp đương sự.

Chúng ta cần mạnh dạn xây dựng, tổ chức lại mô hình “thừa phát lại”. Cần khuyến khích việc cá nhân, tổ chức thành lập các Văn phòng dịch vụ thi hành án, giống như Văn phòng công chứng tư. Các văn phòng này trách nhiệm xác minh tài sản, tổ chức thực hiện thi hành án … theo thỏa thuận với đương sự.

Có ý kiến bày tỏ quan điểm phán đối việc xã hội hóa công tác thi hành án vì e ngại rằng những công ty thi hành án tư nhân sẽ tiến hành công việc theo kiểu “giang hồ”, “đòi nợ thuê” … Tuy nhiên, lo ngại như vậy là không có cơ sở. Pháp luật hình sự đã qui định rõ thế nào là những hành vi phạm tội. Theo đó bất kỳ cá nhân, tổ chức nào – không chỉ là thành phần tư nhân, làm những việc ảnh hưởng đến tài sản, sức khỏe, danh dự … của người khác đều bị xử lý.

Mặt khác, cũng cần phải nhớ rằng công lý phải được thực thi. Những người đã bị Tòa án tuyên là phạm tội hay phải trả nợ cho người khác … có nghĩa là họ đã phạm tội, đã sai, đã nợ người khác. Do vậy, việc họ phải đi tù, phải trả nợ … là lẽ công bằng, không có lý do gì phải thương hại, phải lo lắng hay thậm chí “bao che” cho họ. Tôi cho rằng quan điểm e ngại xã hội hóa công tác thi hành án theo kiểu như vậy thực chất thể hiện quan điểm bao biện cho hành vi sai trái. Hơn nữa, pháp luật cũng đã có qui định về những trường hợp khi người phải thi hành án thật sự khó khăn, không có khả năng thi hành thì giải quyết như thế nào. Về nguyên tắc, Nhà nước không thể và không có trách nhiệm phải “lo” cho những sai trái của người phải thi hành án.

-------------------------------

Thông tin liên quan

50% án không thi hành được

Theo báo cáo tại Quốc hội, có tới 300.000 bản án, chiếm 50% án, không thi hành được. Án dân sự trong hình sự chiếm tới 47% tổng số lượng án, trong đó có tới 65,3% không có điều kiện thi hành. Nguyên nhân của việc không thi hành được ở loại án này chủ yếu là do người thi hành không có tài sản, đó là hầu hết các vụ án xâm phạm tài sản như cướp, trộm cắp, cướp giật đều do người nghiện ma túy gây ra. Loại án này trên thực tế không thể thi hành được.

--------------------------------------------------------

Cần thiết phải ban hành Luật Thi hành án dân sự

Ngày 23-5-2008, Quốc Hội đã thảo luận về dự án Luật thi hành án dân sự do Chính Phủ trình bày. Dự án Luật được xây dựng trên quan điểm cải cách tư pháp, từng bước xã hội hóa hoạt động thi hành án, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội. Nét đặc biệt là Chính phủ đề nghị cho phép cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động thi hành án.

Theo báo cáo thẩm tra Dự án Luật Thi hành án dân sự của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội, trong những năm qua, công tác thi hành án dân sự đã có những chuyển biến tích cực. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 (thay thế Pháp lệnh năm 1993) cơ bản đã tháo gỡ kịp thời một số tồn tại, vướng mắc, góp phần từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác này.

Tuy nhiên, sau 3 năm thực hiện Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, một số quy định trong Pháp lệnh này đã không còn phù hợp. Thực tiễn đòi hỏi phải xây dựng Luật Thi hành án dân sự.

Nhìn chung, các đại biểu Quốc Hội đồng ý với việc cần thiết phải ban hành Luật Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, có ý kiến không đồng ý với việc cho phép cá nhân, tổ chức tham gia thi hành án như đề nghị của Chính phủ. Bà Trần Thị Hoa Ry ( tỉnh Bạc Liêu) nói: "Vì trong thời gian qua chúng ta mới cho phép mở dịch vụ đòi nợ cũng đã xuất hiện tình trạng các dịch vụ này sử dụng các tay anh chị, rồi bọn đầu gấu để khống chế các con nợ theo kiểu xã hội đen, cũng gây bất bình rất lớn trong dư luận xã hội".

(Theo website Chính phủ và báo Tuổi Trẻ 24-5-2008)

------------------------- 

Vụ sai phạm tại cơ quan Thi hành án Dân sự TP. HCM

Tháng 1-2007, cơ quan chức năng đã khởi tố ông Lương Vĩnh Phúc, Trưởng cơ quan Thi hành án Dân sự TP.HCM về hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, liên quan đến vụ tiêu cực trong việc thi hành án vụ Epco – Minh Phụng.

Theo kết quả điều tra, ông Lương Vĩnh Phúc đã tham gia ban hành các quyết định trái pháp luật, để cho các hộ dân “chuộc” hơn 30.000m2 đất, là tài sản thi hành án vụ Epco – Minh Phụng. Cùng bị khởi tố còn có chấp hành viên Bùi Liên Hiệp.

Theo Bản án hình sự phúc thẩm số 05/HSPT ngày 12/1/2000 của Tòa phúc thẩm, TAND Tối cao tại TP.HCM, Công ty Epco có trách nhiệm thu hồi số tiền mà Liên Khui Thìn đầu tư vào các dự án đất tại quận 2 và 9, để trả nợ cho Ngân hàng Công thương, chi nhánh TP.HCM. Tại quận 2, Công ty Epco đã đầu tư dự án nhà ở trên 56.684m2 đất và tiến hành đền bù cho các hộ dân từ năm 1992 với số tiền 40.000 đồng/m2. Tổng cộng tiền bồi thường gần 2,3 tỷ đồng.

Căn cứ vào phán quyết của Tòa, Công ty Epco liên hệ với các cơ quan chức năng để xin hỗ trợ thi hành án (THA), thu hồi số tiền đã đầu tư trên diện tích 56.684m2. Tuy nhiên, công ty này bất ngờ khi nhận được công văn số 3718 của UBND quận 2, cho biết từ năm 2001 - 2003, chấp hành viên Bùi Liên Hiệp đã thu hồi tiền đền bù mà Công ty đã chi trả cho các hộ dân, tổng cộng trên 1,2 tỷ đồng, tương đương với 30.028m2, theo giá Công ty Epco đã đền bù năm 1992 là 40.000 đồng/m2.

Trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT phát hiện không chỉ Bùi Liên Hiệp có hành vi làm trái bản án trong việc tự ý thu hồi tiền đền bù 25.100m2 đất của dân, mà còn có cả ông Lương Vĩnh Phúc hợp tác ban hành hàng loạt các văn bản trái pháp luật về đối tượng THA, đối tượng được THA, số tiền phải THA và nhiều văn bản khác giúp các hộ dân “chuộc” đất được đăng ký và chuyển nhượng đất.

Cụ thể, toàn bộ số tiền thu hồi từ việc cho dân “chuộc” đất trên 1,2 tỉ đồng và trên 4,77 tỉ đồng do Công ty Epco thu hồi chuyển giao đã không được Cơ quan THA dân sự TP.HCM thanh toán cho Ngân hàng Công thương, chi nhánh TP.HCM như bản án và quyết định THA đã tuyên. Hành vi trên đã gây thiệt hại cho Công ty Epco gần 3 tỉ đồng và Ngân hàng Công thương chi nhánh TP.HCM gần 6 tỉ đồng.

Ngoài ra, trong thời gian đương nhiệm chức Trưởng cơ quan THA dân sự TP.HCM, ông Phúc còn có dấu hiệu thiếu trách nhiệm trong việc xử lý số tiền thu hồi được từ công tác THA.

----------------------------

Dân sự