Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Số phận "vinh quang" và bi thảm của Tổng bí thư đảng cộng sản Romania Nicolae Ceausescu


Nicolae Ceauşescu nguyên là Tổng Bí thư Đảng cộng sản Romania từ năm 1965 đến năm 1989. Mặc dù chễm chệ ngai vàng trên 20 năm, nhưng cuối cùng ông đã có một kết thúc vô cùng bi thảm - qua việc bị hành quyết từ một phiên tòa quân sự (tuyên xử tử hình) về tội làm giàu trái phép và diệt chủng!

Thời điểm Nicolae Ceausescu bị hành quyết cũng chính là thời điểm sụp đổ của hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu (gồm Romania) - từng được mệnh danh là "Thành trì của Cách mạng thế giới", đứng đầu là Liên Xô (ngày nay là Nga và các nước cộng hòa lân cận).

Ảnh: Con tem phát hành tại Romania năm 1988, kỷ niệm ngày sinh lần thứ 70 của Nicolae Ceauşescu. Chỉ một năm sau đó nhà lãnh đạo bị hành quyết.

Nicolae Ceauşescu (sinh năm 1918 chết ngày 25-12-1989) là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Romania từ năm 1965 đến năm 1989. Ngoài ra ông còn kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước từ năm 1967 và Chủ tịch Romania từ năm 1974 đến năm 1989.

Thời kỳ cầm quyền của ông được đánh dấu bởi thập kỷ đầu tiên với chính sách mở cửa với Tây Âu và Hoa Kỳ - lệch hướng so với các quốc gia Khối hiệp ước Warszawa trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Thập kỷ cầm quyền thứ hai của Ceauşescu có đặc trưng ở sự tăng tệ sùng bái cá nhân, chủ nghĩa quốc gia cực đoan.

Chính phủ Ceauşescu bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính quân sự tháng 12 năm 1989, và ông bị xử bắn sau một phiên xử kéo dài trong hai giờ một cách chiếu lệ - bởi một toà án quân sự.

Tuổi trẻ và sự nghiệp

Sinh ra tại làng Scorniceşti, Hạt Olt, trong một gia đình nông dân, Ceauşescu chuyển tới thủ đô Bucharest ở tuổi lên 11 để làm việc trong các nhà máy. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Romania - khi ấy vẫn còn xem là bất hợp pháp đầu năm 1932. Năm 1933 lần đầu tiên ông bị bắt năm vì tội kích động trong một cuộc bãi công.

Ông tiếp tục bị bắt nhiều lần trong năm 1934, đầu tiên vì thu thập chữ ký kiến nghị chống lại một cuộc xét xử các công nhân đường sắt và hai lần khác vì các hành động tương tự. Ông bị miêu tả là "kẻ kích động cộng sản nguy hiểm" và "tích cực tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và chống phát xít" trong hồ sơ cảnh sát. Sau đó ông chuyển sang hoạt động bí mật, nhưng lại bị bắt và bị bỏ tù năm 1936 trong hai năm vì các hoạt động chống phát xít.

Ra tù năm 1939, ông gặp bà Elena Petrescu (họ cưới vào năm 1946) - người sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp chính trị của ông trong nhiều thập kỷ. Năm 1940 ông bị bắt và bị bỏ tù lần nữa.

Sau Thế chiến II, khi Romania bắt đầu rơi vào vùng ảnh hưởng của Liên xô, ông trở thành thư ký Liên đoàn Tuổi trẻ Cộng sản (1944–1945).

Sau khi những người cộng sản nắm quyền lực ở Romania năm 1947, ông làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, sau đó làm Thứ trưởng Các lực lượng vũ trang dưới quyền nhà lãnh đạo Gheorghe Gheorghiu-Dej. Năm 1952, Gheorghiu-Dej đưa ông vào Uỷ ban Trung Ương, vài tháng sau khi "phái Muscovite" trong đảng do Ana Pauker lãnh đạo bị thanh trừng.

Năm 1954, ông thành thành viên đầy đủ của Bộ chính trị và cuối cùng lên nắm chức vụ cao thứ hai trong hệ thống đảng.

Lãnh đạo Romania

Ba ngày sau cái chết của Gheorghiu-Dej tháng 3 năm 1965, Ceauşescu trở thành Thư ký thứ nhất Đảng Công nhân Romania.

Một trong những hành động đầu tiên của ông là đổi tên đảng thành Đảng Cộng sản Romania, và đặt lại tên nước là Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Romania, thay cho tên Cộng hoà Nhân dân trước đó.

Năm 1967, ông củng cố thêm quyền lực khi trở thành Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

Ban đầu, Ceauşescu là một nhân vật nổi tiếng ở Romania và cả ở Thế giới phương Tây, vì chính sách đối ngoại độc lập, thách thức quyền lực của Liên bang Xô viết. Trong thập niên 1960, ông chấm dứt sự tham gia tích cực của Romania trong Khối hiệp ước Warszawa (dù Romania vẫn chính thức là một thành viên); ông từ chối tham gia cuộc xâm lược Tiệp Khắc năm 1968 của các lực lượng Khối hiệp ước Warszawa, và công khai lên án mạnh mẽ hành động này. Dù Liên bang Xô viết tỏ thái độ khoan dung cho hành động cứng đầu của Ceauşescu, hành động dường như độc lập khỏi Moscow (Liên Xô) khiến Romania có vị thế một thành viên "bất tuân" bên trong Khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa.

Tiếp đó, Ceauşescu trở thành "Chủ tịch Romania", củng cố thêm nữa quyền lực của ông. Ông thực hiện một chính sách đối ngoại độc lập. Năm 1984, Romania là một trong ba nước cộng sản (hai nước kia là Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Nam Tư) tham gia vào Olympics mùa hè năm 1984 tổ chức tại Hoa Kỳ. Tương tự, Romania là nước đầu tiên trong Khối Đông Âu có quan hệ chính thức với Cộng đồng Châu Âu: một thoả thuận đưa Romania vào Hệ thống Tham khảo Chung của Cộng đồng được ký kết năm 1974 và một Thoả thuận về các Sản phẩm Công nghiệp được ký năm 1980.

Tuy nhiên, Ceauşescu từ chối áp dụng bất kỳ một cải cách tự do nào. Quy trình phát triển của chế độ của ông đi theo con đường của Stalin vốn đã khởi đầu từ thời Gheorghiu-Dej. Sự chống đối quyền kiểm soát của Liên xô của họ chủ yếu xảy ra do sự bực tức trước quá trình phi Stalin hoá. Cảnh sát mật (Securitate) duy trì kiểm soát chặt chẽ truyền thông và ngôn luận, và không khoan dung cho đối lập.

Bắt đầu từ năm 1972, Ceauşescu đưa ra một chương trình hệ thống hoá. Được coi như một con đường để xây dựng một "xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển đa bên", chương trình phá huỷ, tái lập và xây dựng bắt đầu tại vùng nông thôn, nhưng lên tới đỉnh điểm với một nỗ lực tái lập toàn bộ hình ảnh thủ đô quốc gia. Hơn một phần năm vùng trung tâm Bucharest, gồm cả các nhà thờ và các công trình lịch sử, bị phá huỷ trong thập niên 1980, nhằm xây dựng lại thành phố theo kiểu của ông.

Toà nhà Nhân dân ("Casa Poporului") tại Bucharest, hiện là Cung Nghị viện, là công trình hành chính lớn thứ hai thế giới, sau Lầu năm góc. Ceauşescu cũng có kế hoạch san bằng nhiều làng mạc để đưa những người nông dân vào các khối căn hộ trong các thành phố, như một phần của các chương trình "đô thị hoá" và "công nghiệp hoá" của ông. .

Nghị định năm 1966 về cấm phá thai

Năm 1966, chế độ Ceauşescu cấm việc phá thai, và đưa ra chính sách riêng của mình nhằm tăng tỷ lệ sinh quá thấp. Việc phá thai chỉ được phép trong những trường hợp người phụ nữ quá bốn hai tuổi, hay người mẹ đã có trên bốn (sau này là năm) con. Các bà mẹ phải có ít nhất năm con để được hưởng trợ cấp lớn, trong khi những bà mẹ có ít nhất mười con được Nhà nước Romania gọi là các bà mẹ anh hùng; ít người phụ nữ muốn có danh hiệu này, trung bình một gia đình Romania thời cộng sản có hai tới ba con (xem Nhân khẩu Romania). Hơn nữa, một số lượng khá lớn phụ nữ hoặc chết hay bị tàn tận trong những vụ phá thai lậu.

Chính phủ cũng tìm cách làm giảm mức ly hôn ngày càng tăng bằng cách khiến nó trở nên rất khó khăn. Nghị định quy định một cuộc hôn nhân chỉ được chấm dứt trong những trường hợp đặc biệt.

Nhờ đó, tới cuối thập niên 1960, dân số Romania bắt đầu tăng lên, nhưng cùng với độ là sự tăng trưởng nghèo đói và vô gia cư (trẻ em đường phố) tại các vùng đô thị. Phát sinh tình trạng bỏ rơi trẻ em không kiểm soát, làm tăng số trẻ mồ côi và tạo điều kiện cho bệnh dịch AIDS phát triển hồi cuối thập niên 1980 - do chế độ từ chối công nhận sự tồn tại của bệnh dịch này, và không muốn tiến hành bất kỳ một ca xét nghiệm HIV nào.

Luận cương tháng 7



Nicolae Ceauşescu (phải) cùng chủ tịch Kim Nhật Thành (ông nội chú Ủn ngày nay) tại Triều Tiên năm 1971

Ceauşescu đã đến thăm Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Bắc Triều Tiên năm 1971 và bị ấn tượng bởi mô hình cứng rắn tại đó.

Ngay sau khi về nước, ông bắt đầu học theo hệ thống của Bắc Triều Tiên, bị ảnh hưởng bởi triết lý Juche của Chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành. Những cuốn sách về Juche của Bắc Triều Tiên được dịch sang tiếng Romania và được phân phát rộng rãi trong nước.

Ngày 6 tháng 7 năm 1971, ông phát biểu trước Uỷ ban Hành pháp của Đảng Cộng sản Romania. Bài phát biểu kiểu Maoist này, sẽ được gọi là Luận cương tháng 7, có chứa mười bảy đề xuất. Trong số đó có: liên tục tăng cường "vai trò lãnh đạo" của Đảng; cải tiến hoạt động giáo dục về Đảng và phổ biến chính trị vào quần chúng; sự tham gia của thanh niên vào các dự án xây dựng lớn như một phần của "hành động yêu nước" của họ; tăng cường giáo dục chính trị ý thức hệ tại các trường học và trường đại học, cũng như trong các tổ chức của trẻ em, thanh niên và sinh viên; và mở rộng tuyên truyền chính trị định hướng các chương trình phát thanh và truyền hình theo mục đích này, cũng như tại các nhà xuất bản, các rạp hát và rạp chiếu phim, opera, ballet, các hiệp hội nghệ sĩ, khuyến khích một nhân vật "chiến binh, cách mạng" trong sáng tác nghệ thuật. Sự giải phóng năm 1965 bị lên án và một danh sách sách và tác giả bị cấm được tái lập.

Luận cương đã báo trước sự khởi đầu của một cuộc "cách mạng văn hoá" tại Romania, tung ra một cuộc tấn công kiểu chủ nghĩa Stalin mới chống lại sự tự chủ văn hoá, tái khẳng định các cơ sở ý thức hệ cho văn học mà, trong lý thuyết, Đảng đã rất khó khăn để từ bỏ.

Cuộc đào tẩu của Pacepa

Năm 1978, Ion Mihai Pacepa, một thành viên cao cấp của lực lượng cảnh sát mật (Securitate) Romania, đào tẩu sang Hoa Kỳ. Là một vị tướng 2 sao, ông này là nhân vật đào tẩu cấp cao nhất từ Khối Đông Âu trong lịch sử cuộc Chiến tranh Lạnh. Cuộc đào tẩu của ông là một cú đấm mạnh vào chế độ, buộc Ceauşescu phải xem lại toàn bộ lực lượng này.

Cuốn sách viết năm 1986 của Pacepa, Red Horizons: Chronicles of a Communist Spy Chief  được cho là đã phơi bày các chi tiết về chế độ của Ceauşescu. Như cộng tác với những kẻ khủng bố Ả Rập, gián điệp trên diện rộng về công nghiệp Hoa Kỳ và thực thi các nỗ lực nhằm thu hút ủng hộ chính trị của phương Tây.

Sau vụ đào tẩu của Pacepa, nước này bắt đầu trở nên cô lập hơn và phát triển kinh tế cũng giảm sút. Cơ quan tình báo của Ceauşescu bắt đầu trở thành mục tiêu thâm nhập mạnh của các cơ quan tình báo nước ngoài và ông bắt đầu mất quyền điều khiển đất nước. Ông đã nhiều lần tìm cách tái tổ chức nhằm loại bỏ những cộng tác viên cũ của Pacepa, nhưng không thành công.


Hình ảnh của nhà lãnh đạo Ceauşescu oai phong lẫm lẫm trên những tấm poster trên đường phố Romania (ảnh năm 1986)

Nợ nước ngoài

Ceauşescu đã vay nhiều hơn 13 tỷ USD từ phương Tây để cung cấp cho các chương trình phát triển kinh tế, nhưng những khoản vay này cuối cùng đã tàn phá tình hình tài chính trong nước. Trong một nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề, Ceauşescu quyết định trừ tiệt các khoản nợ nước ngoài của Romania. Ông tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý và tìm cách thay đổi hiến pháp, thêm vào một điều khoản cấm Romania nhận các khoản vay từ nước ngoài trong tương lai. Kết quả trưng cầu dân ý hầu như toàn bộ là "đồng ý".

Trong thập niên 1980, Ceauşescu ra lệnh xuất khẩu hầu hết sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp của Romania nhằm chi trả các khoản nợ. Kết quả là sự thiếu hụt trong nước khiến cuộc sống của những người dân Romania trở thành một cuộc đấu tranh sinh tồn bởi thực phẩm bị phân phối và nhiên liệu sưởi ấm, gas và điện bị quản lý. Mức sống người dân ngày càng suy giảm, đặc biệt là số lượng và chất lượng thực phẩm cũng như hàng hoá trong các cửa hàng.

Các khoản nợ nước ngoài đã được thanh toán hết vào mùa hè năm 1989, một thời gian ngắn trước khi Ceauşescu bị lật đổ.

Tình hình chính trọ căng thẳng

Tới năm 1989, Ceauşescu đã có những dấu hiệu của sự chối bỏ thực tế. Trong khi cả đất nước đang trải qua thời gian cực kỳ khó khăn với những hàng dài người trước các cửa hàng thực phẩm rỗng không, ông thường xuất hiện trên đài truyền hình nhà nước trong các cửa hàng đầy ắp thức ăn, tới thăm những lễ hội thực phẩm và nghệ thuật lớn nơi người dân mang tới cho ông những lại thực phẩm ngon lành và ca ngợi thành tựu "tiêu chuẩn sống cao" đạt được dưới quyền cai trị của ông.

Những đội cung cấp thực phẩm sẽ lấp đầy các cửa hàng trước khi ông đến, và thậm chí những chú bò được nuôi nấng tử tế sẽ được chở đi khắp nước để tham gia vào các cuộc thăm viếng các nông trang của ông. Các mặt hàng chủ lực như bột mì, trứng, bơ và sữa rất khó kiếm và hầu hết mọi người bắt đầu phải phụ thuộc vào mảnh vườn nhỏ của mình trong những mảnh sân khu tập thể hay tại vùng nông thôn để sống. Cuối năm 1989, những buổi phát sóng hàng ngày trên TV có cách danh sách CAPs (kolkhozes) với những con số thu hoạch được cho là kỷ lục, trái ngược hoàn toàn với sự thiếu hụt mà người dân thường Romania đang trải qua ở thời điểm ấy.

Một số người, tin rằng Ceauşescu không biết về điều đang diễn ra trong nước, tìm cách trao cho ông những lá thư thỉnh nguyện và phàn nàn trong các chuyến viếng thăm vùng nông thôn của ông. Tuy nhiên, mỗi lần có một lá thư, ông lại chuyển nó lập tức cho các thành viên đội an ninh. Việc Ceauşescu có đọc bất kỳ lá thư nào hay không vẫn là điều chưa được biết. Theo những lời đồn đại ở thời ấy những người muốn trao thư trực tiếp cho Ceauşescu đều có nguy cơ bị trừng phạt bởi cảnh sát mật Securitate. Mọi người rất chán nản trong việc này và nói chung xuất hiện cảm giác rằng mọi thứ đang rất tồi tệ.

Cách mạng và Timişoara

Chế độ Ceauşescu đã sụp đổ sau một loạt sự kiện bạo lực tại Timişoara và Bucharest tháng 12 năm 1989.

Trước đó tháng 11 năm 1989, Đại hội lần thứ 14 Đảng Cộng sản Romania (PCR) đã chứng kiến Ceauşescu - khi ấy 71 tuổi, tiếp tục tái đắc cử một nhiệm kỳ lãnh đạo 5 năm nữa.

Những cuộc tuần hành ở thành phố Timişoara phát sinh bởi nỗ lực được chính phủ ủng hộ nhằm đuổi László Tőkés, một Mục sư người Hungary, bị chính phủ buộc tội gây ra sự căm ghét sắc tộc. Các thành viên giáo đoàn Hungary bao vây căn nhà của ông để bày tỏ sự ủng hộ.

Các sinh viên Romania đã tự động gia nhập vào các cuộc tuần hành, và nó nhanh chóng thoát ly khỏi nguyên nhân ban đầu và trở thành một cuộc tổng tuần hành chống chính phủ.

Ngày 17-12-1889, lực lượng quân đội, cảnh sát và Securitate nổ súng vào những người biểu tình.

Ngày 18-12-2989, Ceauşescu lên đường đi thăm Iran, giao lại trách nhiệm đàn áp cuộc nổi loạn Timişoara cho các thuộc cấp và vợ. Ngay khi ông quay trở về vào ngày 20 tháng 12, tình hình thậm chí còn căng thẳng hơn. Ông đã có một bài phát biểu trên truyền hình từ phòng phát sóng bên trong Toà nhà Uỷ ban Trung ương (CC Building), trong đó ông nói về các sự kiện tại Timişoara như một "sự can thiệp của các lực lượng nước ngoài vào công việc nội bộ của Romania" và một sự "tấn công từ bên ngoài vào chủ quyền của Romania".

Cả nước, vốn trước đó hầu như không biết gì về các sự kiện ở Timişoara từ truyền thông nhà nước, mà chỉ biết được qua các đài nước ngoài như Voice of America và Radio Free Europe và truyền khẩu. Một cuộc tụ họp lớn được lên kế hoạch cho ngày hôm sau, ngày 21 tháng 12, mà theo truyền thông chính thức, được gọi là một "phong trào tự phát ủng hộ Ceauşescu", giống cuộc meeting năm 1968 trong đó Ceauşescu đã phát biểu chống lại cuộc xâm lược Tiệp Khắc của các lực lượng Khối Warszawa.

Nhà lãnh đạo bị lật đổ

Ngày 21-12-1989, một cuộc tụ họp lớn được tổ chức tại nơi giờ là Quảng trường Cách mạng, biến thành sự hỗn loạn. Hình ảnh Ceauşescu đứng vô cảm trước sự la ó của đám đông là một trong những khoảnh khắc mạnh mẽ nhất về sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu.

Vợ chồng nhà độc tài đã không thể kiểm soát nổi đám đông, cuối cùng phải ẩn trốn trong toà nhà, và họ tiếp tục ở đó tới ngày hôm sau.

Cả ngày hôm đó tiếp tục là cuộc nổi dậy của người dân Bucharest, vốn đã chiếm Quảng trường Đại học và xung đột với cảnh sát và quân đội tại các trạm gác. Tuy nhiên, những người biểu tình không vũ trang không đương đầu nổi với lực lượng quân đội tập trung tại Bucharest, nửa đêm hôm ấy quân đội đã dẹp yên đường phố và bắt giữ hàng trăm người.

Dù được quảng cáo là "cuộc tụ họp ủng hộ" và những sự kiện sau đó trên truyền hình quốc gia đã bị cắt từ ngày hôm trước, phản ứng của Ceauşescu trước các sự kiện đã trở thành một phần trong ký ức quốc gia.

Tới sáng ngày 22 tháng 12 năm 22, người nổi dậy đã tràn tới mọi thành phố lớn. Cái chết đầy nghi vấn của Vasile Milea, bộ trưởng quốc phòng, được thông báo trên truyền thông. Ngay sau đó, Ceauşescu chủ trì cuộc họp của CPEX và nắm quyền chỉ huy quân đội. Ông đưa ra một nỗ lực nhằm giải tán đám đông tụ tập trước toà nhà Uỷ ban Trung ương, nhưng hành động này bị những người nổi dậy bác bỏ, họ buộc mở cửa toà nhà, khi ấy đã không còn được bảo vệ. Vợ chồng Ceauşescu đã bỏ trốn bằng trực thăng sau một quyết định sai lầm (bởi họ vẫn có thể trú ẩn an toàn trong đường hầm ngầm).

Báo chí phương Tây uớc tính số người bị chết bởi lực lượng cảnh sát mật ủng hộ Ceauşescu đã tăng nhanh chóng tới mức 64. 000 người chết và được đưa rộng rãi trên trang nhất các tờ báo. Tuy nhiên tùy viên quân đội Hungary thể hiện sự nghi ngờ con số trên, chỉ ra rằng cần phải có rất nhiều thiết bị hậu cần để có thể giết một số lượng người lớn như vậy trong một thời gian ngắn.

Sau cái chết của Ceauşescu một thông báo về số lượng thương vong được tính trên toàn quốc cho thấy số người chết thực tế chưa tới một nghìn và có thể còn thấp hơn nữa.

Nhà lãnh đạo bị hành quyết

Ceauşescu và vợ Elena đã bỏ chạy khỏi thủ đô với Emil Bobu và Manea Mănescu và đi tới ngôi nhà của Ceauşescu tại Snagov. Từ đó, họ tiếp tục đi tới Târgovişte. Gần Târgovişte, họ bỏ lại chiếc trực thăng, đã bị quân đội hạ lệnh hạ cánh, khi ấy chiếc máy bay cũng bị giới hạn chỉ bay trong không phận Romania.

Vợ chồng Ceauşescu bị cảnh sát bắt giữ, khi những người cảnh sát nghe tin qua radio. Cuối cùng cảnh sát giao hai vợ chồng cho quân đội.

Ngày 25-12-1989, đúng vào ngày Noel, hai người bị một toà án quân sự xử tử hình vì tội làm giàu trái phép cho tới diệt chủng. Ngay sau đó họ đã bị hành quyết tại Târgovişte. Đội quay phim ghi lại các sự kiện đã bỏ lỡ cảnh hành quyết - bởi việc này diễn ra ... quá nhanh!

Vợ chồng Ceauşescu bị một đội hành quyết bắn  - mà theo tin đồn là có hàng trăm người tình nguyện tham gia, gồm cả binh sĩ thuộc trung đoàn dù tinh nhuệ Ionel Boeru, Dorin Cârlan và Octavian Gheorghiu bằng dùng súng trường. Đội hành quyết đã không cần đợi việc trói và bịt mắt hai vợ chồng, như truyền thống dành cho người bị hành quyết theo cách đó, mà đơn giản bắn ngay khi họ xuất hiện!

Sau khi vụ xử bắn kết thúc, thân thể hai vợ chồng bị phủ vải bạt. Cuộc xử án vội vã và những hình ảnh về cái chết của hai vợ chồng Ceauşescu đã được ghi lại và phát sóng ngay sau đó ở nhiều quốc gia phương tây. Đoạn băng xử án và những hình ảnh thân thể (nhưng không có đoạn hành quyết) đã được chiếu cùng ngày hôm ấy trên TV cho công chúng Romania.

Mộ của vợ chồng Ceauşescu nằm ở nghĩa trang Ghencea tại Bucharest. Nicolae và Elena được chôn ở hai phía đối diện một con đường. Những ngôi mộ khá khiêm tốn, nhưng thường được phủ hoa và các biểu tượng của chế độ của họ.

Một số người cho rằng, trên thực tế những ngôi mộ đó là mộ giả. Tháng 4 năm 2007, con trai họ đã thua một vụ kiện yêu cầu điều tra vụ việc. Người con trai cả Nicu Ceauşescu, chết năm 1996, và được chôn gần đó trong cùng nghĩa địa. Theo Jurnalul Naţional, những yêu cầu đã được người con gái và những người ủng hộ quan điểm của họ đưa ra để dời họ tới các lăng mộ hay nhà thờ được xây dựng riêng cho họ, nhưng những yêu cầu đó bị chính phủ bác bỏ.


Mộ Nicolae Ceauşescu tại nghĩa trang Ghencea

Việc sùng bái cá nhân và chủ nghĩa độc tài

Hậu thế đánh giá Ceauşescu đã tạo ra một sự sùng bái cá nhân lớn, tự trao cho mình các danh hiệu "Conducător" ("Lãnh tụ") và "Geniul din Carpaţi" ("Thiên tài của người Carpathian"), với sự hỗ trợ của các nhà thơ Văn hoá Vô sản (Proletkult) như Adrian Păunescu và Corneliu Vadim Tudor, và thậm chí còn có cả một vương trượng kiểu nhà vua- cho riêng mình.

Để tránh những hành động phản bội mới như kiểu Pacepa, Ceauşescu đã đưa vợ mình Elena cùng các thành viên khác trong gia đình vào các chức vụ trong chính phủ.

Thông tin liên quan

Dưới thời Ceauşescu, Romania là nước xuất khẩu vũ khí hàng thứ tư Châu Âu. Ông đã có những nỗ lực hoạt động trung gian giữa PLO và Israel. Ông đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý thành công để giảm bớt quy mô Quân đội Romania 5% và tổ chức những cuộc tuần hành lớn vì hoà bình.

Ceauşescu cũng đã tìm cách đóng một vai trò ảnh hưởng và hướng dẫn cho các quốc gia Nam Mỹ. Ông là đồng minh thân cận và là một người bạn của nhà độc tài Tổng thống Mobutu Sese Seko của Zaïre. Trên thực tế các mối quan hệ không phải giữa nhà nước-nhà nước, mà là đảng-đảng giữa MPR và Đảng Cộng sản Romania. Nhiều người tin rằng cái chết của Ceauşescu đóng vai trò lớn gây ảnh hưởng tới quá trình "dân chủ hoá" của Mobutu tại Zaïre năm 1990.

Ceauşescu là người duy nhất được nhận Order of the Elephant của Đan Mạch rồi bị rút lại. Việc này xảy ra ngày 23 tháng 12 năm 23, 1989, khi HM Nữ hoàng Margrethe II ra lệnh thu hồi phù hiệu về Đan Mạch, và xoá bỏ tên Ceauşescu khỏi văn bản lưu trữ.

Tương tự Ceauşescu cũng bị tước danh hiệu vinh dự GCB (Knight, Grand Cross of the Bath) bởi Nữ hoàng Elizabeth II của Vương quốc Anh ngay ngày trước khi ông bị hành quyết. Nữ hoàng Elizabeth cũng trả lại Huân chương mà nhà nước Romania đã trao cho bà.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của mình năm 1988 Ceauşescu được lãnh đạo Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa Đức Erich Honecker trao tặng Karl-Marx-Orden; qua việc này ông được trao tặng vì đã từ chối các cuộc cải cách của Mikhail Gorbachev.

(Theo Wikipedia)

-------------------

Bài liên quan: