Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Không được lấy tinh trùng của người chết

Anh Tú

Cuối năm 2010, BBC gần đây đưa tin một phụ nữ Anh đã nộp đơn đề nghị tòa án cho phép cô được sử dụng tinh trùng của người chồng đã quá cố nhằm thực hiện việc thụ tinh nhân tạo. Theo qui định hiện nay, yêu cầu của cô bị bác không chỉ ở Anh mà còn trên toàn thế giới.

< Ảnh minh họa


Tinh trùng của ai chỉ riêng người đó mới có quyền quyết định

Trước đó, vào năm 2007, chồng của người phụ nữ này đã bị đột tử sau một ca phẫu thuật. Và ngay sau khi người chồng qua đời, cô đã chủ động thuê bác sĩ lấy và bảo quản tinh trùng của người chồng.

Đứa con là quà tặng kỳ diệu của tình yêu (ảnh minh họa)Tuy nhiên, yêu cầu của cô đã bị tòa bác bỏ. Thẩm phán Justice Charles tuyên bố việc cô tự ý bảo quản tinh trùng của chồng để thụ thai đứa con thứ hai là phi pháp – vì cô đã không có gì chứng minh được rằng chồng cô đồng ý cho phép cô lấy tinh trùng của mình sau khi mình qua đời. Theo luật pháp Anh, bất kỳ ai cũng chỉ được phép bảo quản tinh trùng hoặc trứng của người chết nếu có sự đồng ý bằng văn bản của chính người đó.

Phần mình, người phụ nữ cho rằng yêu cầu của tòa án về việc cô phải đưa ra văn bản chấp thuận của chồng là vô lý, bởi khi phẫu thuật, không ai nghĩ là chồng cô sẽ mất mạng và trước khi ca phẫu thuật được tiến hành, hai vợ chồng cô đã nói tới kế hoạch sinh đứa con thứ hai.

Không hoàn toàn mất hy vọng, cô vẫn còn chờ ý kiến của Cơ quan Kiểm soát phôi thai và tinh trùng của người (HFEA). Theo tòa, nơi đây sẽ ra quyết định cuối cùng về trường hợp của cô. Luật sư của cô cho rằng tòa án không có quyền tiêu hủy lượng tinh trùng mà người góa phụ đang bảo quản, vì điều đó vi phạm quyền lợi cơ bản của cô.

Tuy nhiên, có vẻ như HFEA cũng không đứng về phía cô khi Chủ tịch HFEA, Giáo sư Lisa Jardinephát biểu: “Đây là một vấn đề khó và chúng tôi rất thông cảm với tình cảnh của bà ấy. Nhưng với tư cách là cơ quan quản lý, chúng tôi phải hành động trong khuôn khổ pháp luật. Mà theo luật pháp, tinh trùng chỉ có thể được bảo quản nếu người cung cấp viết văn bản đồng ý”.

Việt Nam không cho phép mang thai hộ

Vụ việc trên là trường hợp đầu tiên tại Anh và trên thế giới yêu cầu về việc được sử dụng tinh trùng của người chết để thụ thai.

Nếu trường hợp trên xảy ra tại Việt Nam, kết quả có lẽ cũng không khác. Vì hiện ở Việt Nam, cũng không hề có qui định về việc ai đó có quyền tự ý lấy tinh trùng của người khác – kể cả người chết. Mặc dù gần đây có ý kiến đề nghị nên cho phép các ngân hàng tinh trùng tại Việt Nam được phép làm như vậy để “tăng cường” nguồn hàng tinh trùng đang ở vào tình trạng khá “nghèo” tại các ngân hàng tinh trùng.

Qui định về việc quản lý việc cho - nhận tinh trùng tại Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào xuất phát từ đòi hỏi của thực tế.

Với sự phát triển của khoa học trong lĩnh vực y tế, từ tháng 4-1998, Bệnh viện Từ Dũ là nơi đâu tiên triển khai việc thụ tinh trong ống nghiệm, tới nay đã có nhiều cơ sở y tế trên cả nước thực hiện thành công việc này như : Viện Bảo vệ mà mẹ và trẻ sơ sinh, Học viện Quân y, Bệnh viện Hùng Vương … từ đó đã tạo ra một “khoảng trống pháp lý” quy định việc cho - nhận tinh trùng, noãn, phôi, việc xác định cha, mẹ cho trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ...

Tháng 2-2003, Chính phủ ban hành Nghị định 12/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học, quy định việc thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm. Nguyên tắc chung là việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; cho – nhận noãn, tinh trùng … phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, bí mật.

Nghị định cũng nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính. Tức là tại Việt Nam, việc thuê, nhờ người khác mang thai là vi phạm pháp luật.

Về việc mang thai hộ, hiện trên thế giới có hai xu hướng khác nhau. Trong khi hầu hết các nước đặt vấn đề nhân phẩm con người lên hàng đầu - dẫn đến việc con người bị hạn chế quyền tự định đoạt thân thể mình và do vậy cấm việc mang thai hộ thì tại một số nước, việc mang thai hộ lại được pháp luật cho phép.

Chẳng hạn như tại Mỹ, trái lại, quyền tự do được đặt lên đầu. Theo đó con người được tự do định đoạt thân thể mình. Chính từ quan điểm “tự do thân thể” như vậy đã làm phát sinh hiện tượng giả mang thai hộ, mà thực chất là bán con, hoặc xuất hiện những tổ chức môi giới mang thai hộ vì mục đích lợi nhuận, biến con người thành công cụ kiếm tiền. Thực tế đã có những phụ nữ châu Âu sang Mỹ để nhờ mang thai hộ.

Con sinh ra do thụ tinh nhân tạo không có quyền thừa kế đối với người cho tinh trùng

Để tránh phát sinh những rắc rối pháp lý liên quan đến việc thụ tinh nhân tạo, pháp luật qui định việc cho tinh trùng, noãn phải bảo đảm nguyên tắc tự nguyện và người cho không được phép tìm hiểu về tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận.

Ngược lại, người nhận tinh trùng, noãn, phôi cũng không được phép tìm hiểu về tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho mình “một nửa” điều kiện để có được đứa con mà mình hằng mong ước.

Việc gửi tinh trùng trong trường hợp người chồng trong những cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh hoặc người có nguyện vọng muốn lưu giữ cá nhân phải tuân thủ các qui định ngặt nghèo và trong trường hợp người gửi tinh trùng bị chết, cơ sở lưu giữ tinh trùng phải hủy số tinh trùng của người đó. Với qui định này, rõ ràng ngay cả trong trường hợp người chồng qua đời thì người vợ cũng không được phép “sử dụng” tinh trùng của người chồng.

Nghị định 12/2003 không những giúp đỡ về mặt pháp lý cho các cặp vợ chồng hiếm muộn mà còn mang lại cả niềm hạnh phúc cho những người phụ nữ sống độc thân muốn có con. Theo đó, người phụ nữ độc thân nếu có nhu cầu có con và có đủ điều kiện về mặt thể chất cũng có thể tự mình sinh con mà không cần phải có chồng. Đây là qui định có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.

Ngoài ra, để tránh những trường hợp theo kiểu “loạn luân” có thể ngẫu nhiên xảy ra, luật qui định tinh trùng của người cho chỉ được sử dụng cho một người. Qua đó loại bỏ đi khả năng tinh trùng của một người cho tinh trùng có thể đến với hai người phụ nữ khác nhau, sinh ra hai đứa con cùng “cha” và hai đứa con này có thể vô tình lấy nhau.

Điều đặc biệt cần lưu ý là con được sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi.( Mặc dù về nguyên tắc thì mẹ và đứa bé sinh ra theo phương pháp thụ tinh nhân tạo không thể biết được ai là chồng, là cha của mình – tuy nhiên, giả sử rằng điều đó xảy ra thì người con vẫn không có được các quyền dân sự đầy đủ như mọi công dân khác. Thực ra, điều này cũng là hợp lý, vì nếu như vậy thì có lẽ chẳng ai dám tự nguyện hiến tinh trùng cả.

---------------------

(Ghi chú: Hiện nay, theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014, thì Việt Nam đã cho phép mang thai hộ. Tuy nhiên chúng tôi vẫn giữ bài viết này như là tư liệu tham khảo)