Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

Len trâu mùa lũ

Doãn Khởi - Thanh Nhã

BLA: Len trâu mùa lũ đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị tháng 10-2011 là một phóng sự khá hay và hiếm hoi trong thời buổi viết báo kiểu mì ăn liền, sex, hot, cướp, giết .... Một câu chuyện sinh động, nhân văn và tinh tế về cảnh đời những người nông dân miền Tây Nam bộ những năm đầu thế kỷ 21. Đáng tiếc là báo Sài Gòn Tiếp Thị nay không còn nữa (từ tháng 3/2014), website sgtt.com.vn cũng không còn hoạt động, cho nên bài báo này nếu không lưu giữ thì sẽ mất đi. Hai tác giả là người có mối quan hệ thân thiết với chúng tôi, do vậy Bình luận án blog lưu lại tại đây. Hãy cùng đọc và cảm nhận, thương những phận nghèo như đám lục bình chầm chậm trôi dạt trên sông.

Hai tiếng “len trâu” có lẽ được nhiều người vùng khác biết tới kể từ khi “ông già Nam bộ” Sơn Nam viết truyện ngắn Mùa len trâu, in trong tập Hương rừng Cà Mau. Len trâu được nhiều người hiểu là lùa trâu lên vùng cao tránh mùa nước và tìm cỏ, một ông già nuôi trâu ngót đời người đồ rằng, “len” là tiếng Khmer, nghĩa là tự do. Sau hơn 50 năm, kể từ khi Mùa len trâu ra đời, len trâu bây giờ vẫn còn, tuy khác xưa ít nhiều, song, len trâu vẫn đẹp nhưng chất chứa buồn chứ không hoang dã như hồi nửa thế kỷ trước.


Bài 1: Xóm du cư giữa đồng

1. Hù… uầy, hù… uầy! Ông Bảy Đực đặt ly rượu đế trên tay xuống chiếu, ưỡn lưng nghển cổ quát con trâu đực lực lưỡng đang muốn bứt dây vì ngửi thấy hơi cái. Mới chập choạng tối, rượu đã đi mua lần thứ ba và ý chừng, chưa ai chịu nghỉ.


Những khoảnh ruộng nhỏ ở ấp 1, xã Thường Phước 1 không còn rạ, bầy trâu đang dần đi về những cánh đồng lớn ở xa hơn. Ảnh: Thanh Nhã

Quanh chiếu rượu sẩm tối đã dọn ra trên cỏ và lót chỗ ngồi bằng mớ rơm tươi, tám khuôn mặt được tác bằng ánh đèn pin duy nhất, đều có điểm chung: đen bóng như da trâu. Người già ngoài sáu mươi, kẻ trẻ nhất cũng đã ba mươi lăm. Mồi đưa cay trong chiếu nhậu, ngoài hai múi bưởi đèo, ít trái lưa leo, củ cải trắng muối chua, chừng chục con khô chạch nướng cỡ ngón tay là chuyện kiếp người, kiếp trâu. Kế đó chừng năm mét, một chiếu rơm khác dành cho các bà vợ và đám con cháu ngồi hóng chuyện. Xung quanh chừng hai chục con người là bầy trâu, số lượng chừng gấp ba người chăn. Con đứng, con nằm lố nhố nhưng cái mõm nào cũng rúc vô đống rơm. Xa chiếu nhậu hơn chút là một dãy lều dài, tứ phía buông mùng, đó là chuồng trâu của ông Năm Đi, một chủ trâu gần 55 tuổi. Là một người kỹ tính và yêu trâu hơn bất kể thứ gì, ông không để trâu bị mưa và muỗi. Căn lều trâu cao gấp ba, đẹp hơn nhiều lần căn lều của những người chủ trâu cũng dựng kế đó: một miếng bạt lúa cũ giăng lên, muốn chui vào, người phải bò.

Nhìn quang cảnh cái thẻo đất dư ven ngã ba lộ, một ngả xuống bến phà Hồng Ngự sang Tân Châu (An Giang), một ngả đi về cửa khẩu Thường Phước, rộng chừng vài trăm mét vuông khi chiều sập xuống cũng có nét nhộn nhịp. Người và trâu chen chúc, vài cái bếp tạm được kê bằng đủ mọi vật liệu nghi ngút khói. Sâu ở phía sau là cánh đồng được đê bao, rộng hơn 27.000ha đã bắt đầu vào vụ gặt, các màu xanh, vàng của lúa, xám của đất pha nhau hỗn độn. Nhìn về cánh đồng, ngút tầm mắt khi buổi chập choạng, thấp thoáng ánh lửa nấu ăn của người len trâu và người chăn vịt chạy đồng. Đến gần, lại một bầy trâu được cột xung quanh một cái mả rộng cỡ cái nhà nhỏ và cao chừng gần bốn mét, tính từ mặt ruộng lên đến nền. Trên cái mả xây chưa chôn ai của một gia đình khá giả ở địa phương, lố nhố hơn chục người, gần hết là đám trẻ sắp hoặc mới lớn. Có lẽ do chúng là người đem trâu ra cánh đồng Thường Phước trễ hơn, nên cái thẻo đất ngoài lộ đã không còn đủ chỗ chứa, thành thử những kẻ chậm chân trưng dụng luôn cái mả làm chỗ ăn ngủ. Đứa đủ lớn, len trâu một mình, còn hầu hết, chúng đi theo cha. Những người cha cuối ngày tranh thủ chạy ra quán làm vài xị hay kéo bài cáctê. Ngồi quây quần trên hai cái huyệt đã đổ đầy cát, tụi trẻ dọn cơm ăn riêng.

Chỉ ít ngày nữa thôi, khi các cánh đồng nhỏ ở xã Thường Phước 1, giáp biên, gặt xong, cả đàn trâu lớn ngoài ngàn con đang phải chen chúc ở những thửa ruộng nhỏ, sẽ dồn về chật cánh đồng này.

2. Len trâu mùa nước lũ bây giờ có cái khác xưa, cái thời của ông Sơn Nam. Ngày ấy, lùa trâu lên vùng đất cao để tránh nước và tìm cỏ, giờ vào mùa nước, không thiếu chỗ đất cao khi hệ thống đê bao vượt lũ đắp chằng chịt ở vùng Đồng Tháp Mười, nhưng chuyện tìm thức ăn cho trâu, có lẽ, cũng cam go như xưa. Một cái khác nữa, bên cạnh chuyện kiếm miếng ăn, mùa này đàn trâu còn phải kéo lúa. Cánh đồng Thường Phước – Thường Thới Tiền từ khi có đê bao, đã chuyển sang làm lúa ba vụ, điều này làm cả chủ nuôi và bầy trâu mừng vì vừa có việc làm, vừa có cái ăn. Mấy ngày nay, ông Bảy Đực cùng hai cặp trâu đóng xe lội ruộng đến gần tối kéo lúa. Mấy đám lúa sát lộ lại chín trễ hơn mấy đám giữa đồng nên hơn chục chủ kéo lúa mướn phải đi thương lượng với chủ ruộng ven bờ, mua lại một phần đám lúa xanh với giá mắc gấp rưỡi, lấy đường cho trâu kéo. Có chủ dễ tính, đồng ý bán, ông khó chịu, có cao gấp đôi vẫn lắc đầu. Ông Năm Đi chợt buông lời, ra chiều chán chường: “Công ruộng đó, ước chừng ba mươi giạ khi gặt (sáu tạ) vậy mà tui trả đến năm mươi giạ, chả không chịu bán. Có ức không!” Kẻ nghe cũng thấy ức lây khi nhìn ông Bảy Đực lội sình ngập gần gối, thúc cặp trâu đực đang rướn người kéo chừng tấn lúa, sình đã ngập sát bụng. Tiền công để đưa một tấn lúa lên lộ nếu kéo bằng trâu sẽ rẻ hơn dùng xuồng, người ở đây gọi là xuồng lòi. Tuỳ quãng đường xa gần, có khi tới bốn cây số, trung bình người kéo sẽ được hưởng khoảng 5% số lúa, hoặc quy ra tiền. Vì rẻ hơn nên chủ ruộng muốn trâu kéo, nhưng nếu không mua được ruộng gần bờ, họ đành phải kêu xuồng.

Dù kéo nhiều hay ít, chuyến cuối cùng trong ngày, bao giờ người len trâu cũng kéo đầy một xe rơm tươi lên lộ, để dành cho trâu ăn. Thứ rơm tươi, bây giờ ở vùng đồng ruộng cò bay gãy cánh này, nhiều chủ trâu bò phải đi mua, giá vài ba chục ngàn một bao hoặc bó. Người Khmer mua nhiều nhất, họ bơi ghe qua đây mua cả ghe đầy. Đối với chủ đất, họ thường cho không chủ trâu, thành thử kéo được bao nhiêu lúa mùa này không quan trọng bằng kiếm được rơm, gốc rạ cho trâu. Mùa này, nhiều trâu, ít ruộng nên phần lớn, người và trâu chỉ mong kiếm miếng rơm chứ lúa đâu để ai cũng được kéo. Cũng chỉ trong ít ngày nữa thôi, khi các cánh đồng nhỏ ở xã Thường Phước 1, giáp biên, gặt xong, cả đàn trâu lớn ngoài ngàn con đang phải chen chúc ở những thửa ruộng nhỏ, sẽ dồn về chật cánh đồng này. Lác đác trên đoạn đường gần hai chục cây số đi về vùng biên Thường Phước 1, hay phía bên kia bến phà Hồng Ngự, thỉnh thoảng đã thấy người chăn lặng lẽ dắt trâu đi, cả trâu và người đang tụ về cánh đồng lớn Thường Phước – Thường Thới Tiền chuẩn bị gặt vụ ba hoặc đi xa hơn nữa, những cánh đồng mãi tận thị xã Hồng Ngự. Mùa len trâu tháng 9 đến tháng 10 dài đến khi nước rút cạn đồng, người và trâu mới trở về nhà, kéo lúa đông xuân và ăn tết. Đến tháng ba dương lịch, cả hai lại bước vào một mùa len mới, khi gieo xong hạt lúa.

Loạng choạng đứng dậy để đi mua thêm một lần rượu nữa, ông Năm Đi chợt buông câu nửa ngâm ngợi, nửa như hát, chẳng biết ông nói với những người bạn ngồi trong chiếu nhậu hay đàn trâu sau lưng: “Xưa trâu nằm trịnh (sình), người hôi mùi trịnh. Nay trâu nằm mùng, người vẫn hôi mùi trịnh. Đói no cùng chịu, đời người theo đời trâu. Đời trâu thương nhau…”

-----------------------------------

Bài 2: Rong ruổi sang đồng Campuchia

Len trâu ở cánh đồng Thường Phước – Thường Thới Tiền nhiều thế hệ, già đã ngoài 60 tuổi, trẻ mới chừng 15 tuổi. Họ thường không có ruộng, lấy nghề nuôi trâu, kéo lúa mướn kiếm sống. Ngày chưa có đê bao, căn nhà cho trâu ở mùa lũ to hơn, cao hơn nhà của người chủ trâu. Nhưng nay, từ khi đê bao, ruộng đồng làm tăng vụ, xứ này có thêm một mùa len trâu khác.



Trong ảnh, người đàn ông tên Lập ở ấp 3, xã Thường Phước 1, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp, đang tắm cho những con trâu của mình. Ảnh: Thanh Nhã

1. Trong chiếu rượu tối đó, cả người chủ lẫn kẻ len trâu mướn đều đã có một quãng đời, dài hơn hai phần ba cái tuổi họ đang mang trên lưng, ngồi lưng trâu đi rong tứ xứ. Trẻ nhất là Huỳnh Văn Nam – 34 tuổi, thâm niên 20 năm chăn trâu – ông Bảy Đực 58 tuổi, 46 năm – ông Tư Thệ 53 tuổi, gần 40 năm… Trong nhóm len trâu, ông Tư Đực là người lớn tuổi và ít lời nhất. Ông Tư Đực họ Trương, ở cái tuổi 62, bắp tay vẫn cứng đe, da thịt vẫn căng hằn trên áo chật, chiếc áo từ màu xanh đã ngả dần sang màu bùn dãi dầu. Tư Đực là anh rể Bảy Đực và là ba vợ Nam nhưng không có trâu mà đi chăn mướn cho người khác. Mỗi tháng chủ trả khoảng 500.000 đồng tiền công. Vào vụ gặt, kéo được bao nhiêu tiền, chủ trâu lấy một nửa. Gần 50 năm bám trâu hết đồng này xứ nọ, ông Tư Đực được nhiều người tín nhiệm hay nhờ đi coi tướng trâu, nghé. Kẻ bán, người mua thường chọn con nghé hơn một năm tuổi, giá bây giờ trên dưới 10 triệu. Cũng chừng ấy trọng lượng, nhưng chỉ khác nhau vị trí cái xoáy, giá con này có thể chỉ bằng một nửa con kia. Ông Tư Đực kỵ nhất là con nào có xoáy ở mắt vì “có máu chém người”...

Thời bây giờ, vùng Đồng Tháp Mười đâu đâu cũng đồng ruộng, không còn đất trống để cỏ mọc, trâu gặm. Mỗi năm, bầy trâu chỉ được gặm cỏ tươi hơn ba tháng ở cánh đồng Campuchia, gần chín tháng còn lại, thức ăn cho trâu là rơm rạ, tươi ít, khô nhiều. Bây giờ tìm cọng rơm trên đồng bằng cũng muốn đỏ con mắt. Để gặt nhanh và rẻ, người ta thay máy suốt bằng máy gặt đập liên hợp nên phần thân trên cây lúa (rơm) để trữ cho trâu ăn dần cũng ít đi vì máy gặt đập cắt sát ngọn. Phần thân dưới cây lúa (rạ) chỉ là chỗ để thả tạm trâu vài ngày sau khi gặt. Cọng rơm bắt đầu có giá, được tính bằng bao, giá vài ba chục ngàn, nhà nào khá giả, từ đầu mùa đã tìm chủ ruộng, đặt cọc mua rơm. Máy suốt còn rất ít, chủ trâu nào mua được rơm từ máy suốt thì mừng ra mặt vì rơm dài hơn, được nhiều hơn. Nhưng dù cho tất cả những cánh đồng xứ này gặt bằng liềm, cũng chẳng thể đủ rơm cho trâu. Và, với những người đi len trâu, giá 2 triệu đồng một cây rơm là quá mắc mỏ. Vì vậy, ở xứ Hồng Ngự, có thêm một mùa len trâu nữa, len từ đất Việt sang đất Campuchia, bắt đầu vào tháng ba dương lịch, khi gieo xong hạt lúa.

Người Khmer ở Campuchia thường bỏ ruộng vụ ba vì không có đê bao ngăn nước, người Việt qua đó mướn ruộng trồng lúa cũng vậy. Thành thử, khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6, trước mùa nước lũ về, đàn trâu ngàn con được len sang bên ấy kiếm cỏ trên đồng. Hành trình len trâu mùa này dài và nhàn nhã hơn mùa lũ dù vẫn cảnh màn trời chiếu đất. Ông Tư Đực đúc kết, mùa len sang đồng Campuchia đàn trâu mập mạp vì được ăn ngon, tắm sạch và không phải kéo xe. Lúc này chúng sướng hơn những người chăn dắt. Chỉ có điều, muốn đưa một con trâu hay nghé sang bên đó, phải nộp phí cho nhân viên công lực gác biên, mỗi con 100.000 đồng. Nhà ít vài ba trăm, nhà nhiều ngoài triệu, số tiền này kẻ len trâu bỏ ra cũng tiếc nhưng so với tiền mua rơm, còn rẻ hơn nhiều. Những ông già như Tư Đực, Bảy Đực, Năm Đi… thường đi một lèo đến khi nước lũ sắp lên mới đưa trâu về, dù chỉ xa vài ba chục cây số. Trung trung cỡ Nam hay tụi thanh niên, chừng nửa tháng gửi trâu cho bạn chăn, mò về nhà vì nhớ vợ con, bồ bịch. Có đứa cua luôn “ghệ” bên đó, một vài cặp nên vợ nên chồng, cô dâu theo chồng về xứ Việt. Cứ thế, năm này qua năm khác, kiếp người, kiếp trâu rong ruổi với nhau như đôi tri kỷ.


Len trâu, tuyệt nhiên không có phụ nữ. Ở những cánh đồng gần, người vợ chỉ ngày ngày chạy xe máy ra phụ chồng nấu miếng cơm, rửa cái chén, giũ rơm cho trâu ăn, tụ tập tám lúc rảnh và có lẽ để được gần chồng. Ảnh: Thanh Nhã

2. Cái nghiệp theo trâu của Tư Đực vận vào đời ông từ khi còn là một cậu bé mới hơn mười tuổi. Như Bảy Đực, ông sinh ra bên Campuchia, tới năm 1970 của thế kỷ trước, gia đình mới trở về đất Việt. Hồi ở Campuchia, Tư Đực đã chăn trâu bò mướn, như người Việt bên này, người Khmer cũng nuôi nhiều trâu bò. Tư Đực làm bạn chăn trâu với Bảy Đực hồi từ ở bên đất người, dù lớn hơn bốn tuổi, sau này về Việt Nam, ông lấy chị gái bạn. Cả hai cùng lập nghiệp ở ấp 1, xã Thường Phước 1 và sống với nhau đến giờ. Có điều khác, ông Bảy có hai cặp trâu và tám đứa con, còn ông Tư không có trâu, đi chăn mướn và chỉ có hai đứa con gái, một đứa gả cho Nam. Bù lại phần thiếu của ông già vợ, Nam có tới bốn cặp trâu lớn nhỏ. Trong hơi men lạnh, thêm phần có người tò mò hỏi, hai người bạn già lại bá vai nhau uống chung ly đế và kể cái chuyện hồi năm 1973, cả hai dùng trâu đi kéo đạn cho bộ đội, kéo đến năm 1975 mới thôi, thỉnh thoảng đệm vài chữ Khmer. Cũng chẳng ai vào tập đoàn sau ngày thống nhất vì như phần đông các hộ dân nuôi trâu ở hai xã Thường Phước và Thường Phước 1, không có ruộng, ngoại trừ chỗ ở. Người nào nhiều lắm có chừng một hai công, làm không bõ nên đều cho mướn. Chuyện đã qua đến quá nửa đời người nhưng người nói kẻ nghe cứ ngỡ là chuyện mới hôm nào.

 Len trâu, tuyệt nhiên không có phụ nữ. Ở những cánh đồng gần, người vợ chỉ ngày ngày chạy xe máy ra phụ chồng nấu miếng cơm, rửa cái chén, tụ tập tám lúc rảnh và có lẽ để được gần chồng. Đám trẻ mới lớn theo trâu đã bỏ học từ hồi lớp 6 lớp 7, những tháng ngày rong ruổi làm chúng dạn dĩ và già trước tuổi, nhưng đứa nào cũng còi lỏi, mang một thân hình của trẻ lên mười ở phố thị. Nếu tính tuổi những người len trâu đang tạm cư ven cánh đồng Thường Phước mùa này, có thể chúng là thế hệ len trâu thứ ba. Giống ông Tư Đực gần 50 năm trước. Dù học nghề từ lớp người đi trước, tụi trẻ vẫn có những đời sống riêng mà người viết sẽ đề cập ở phần sau. Nhưng có đứa đã bắt đầu hiểu, với những người không ruộng, con trâu không chỉ là đầu cơ nghiệp, là nồi cơm mà như lời ông Năm Đi “kiếp trâu còn là một phần của kiếp người”, chỉ có dài ngắn hơn chứ không hề sướng hay khổ hơn.

----------------------------

Bài liên quan:

Chia tay báo Sài Gòn Tiếp Thị
“Cô vừa đưa con về vừa khóc”
Sài Gòn ngày nay