Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Con gái giả chữ ký cha mẹ để đi vay tiền, phạm tội lừa đảo, lãnh án 12 năm tù


(BLA) - Vì túng tiền, một phụ nữ đã làm giả giấy ủy quyền (gồm chữ ký của cha mẹ mình và con dấu) để vay tiền của người khác. Người phụ nữ đã lãnh án 12 năm tù về hai tội: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị Phương Chi (41 tuổi, ngụ Tây Ninh) là kỹ sư, tốt nghiệp đại học Bách Khoa TPHCM, ngành tin học. Bà đã kinh doanh về du lịch trong nhiều năm liền.

Năm 2011, bà Chi vay mượn 900 triệu đồng của người quen, đến ngày hẹn không có tiền thanh toán nên bà Chi phải đi vay tiền của ngân hàng trả nợ.

Tiếp đó, bà Chi được người quen giới thiệu với ông Nguyễn Văn An vay 2,3 tỷ đồng. Để được vay, ông An yêu cầu Chi phải được bố mẹ mình làm giấy ủy quyền cho bà có quyền sử dụng và định đoạt hợp pháp đối với khu đất của bố mẹ có diện tích đất hơn 5,6 ha.

Biết cha mẹ mình sẽ không ủy quyền cho mình đứng tên khu đất này, vì gia đình có cả thảy 8 anh em. Nên bà Chi nảy sinh ý định làm giả giấy ủy quyền và giả chữ ký để chiếm đoạt tiền của ông An.

Theo đó, bà Chi đã giả chữ ký của bố mẹ mình, sau đó scan dấu mộc đỏ của UBND phường 3, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (dấu mộc đã chứng thực sao y trên giấy CMND của bà Chi) vào giấy ủy quyền. Từ đó, ngày 22-11-2011 bà Chi nhận của ông An 900 triệu đồng.

Đến ngày 23-11-2011, ông An phát hiện giấy ủy quyền của bà Chi là giấy giả, nên làm đơn tố cáo bà Chi.

Sau đó, bà Chi đã bị khởi tố điều tra về hành vi lừa đảo và làm giả con dấu.

Ngày 21-1-2014, TAND tỉnh Tây Ninh đã đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương Chi tổng cộng 12 năm tù giam về hai tội: "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức".

Bình luận án

------------------------

Bình luận của luật sư Trần Hồng Phong:

1. Theo điều luật, thì việc truy tố và kết luận bị cáo Chi về hai tội danh trên là không sai - vì đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Dấu hiệu của tội lừa đảo là có "thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác". Ở đây, về dấu hiệu - bị cáo Chi đã có những thủ đoạn gian dối như giả chữ ký, con dấu ... và thực tế cũng đã chiếm đoạt được tài sản từ ông An (lấy được tiền). Về mặt ý thức, sau khi ông An đề nghị phải có Giấy ủy quyền do bố mẹ bị cáo lập, vì muốn được vay tiền, bị cáo đã có hành động gian dối một cách chủ động và có tính toán - như vậy, có thể xác định đây là hành vi cố ý của bị cáo.

2. Tuy nhiên, quả là cũng có phần hơi "đau" cho bị cáo. Bởi vì xét về bản chất, việc bà Chi vay tiền của ông An là có thật. Đây là quan hệ vay mượn tài sản thật sự. Giả sử nếu ông An không phát hiện ra giấy ủy quyền là giả, và sau này đến hạn bà Chi trả tiền cho ông An. Khi đó, sẽ không có vụ án lừa đảo (vả cả vụ án làm con dấu giả). Tuy nhiên, chính vì bà Chi "xui xẻo", bị ông An phát hiện và tố cáo, nên bà Chi cù mới nhận tiền được hai ngày, chưa đến hạn trả nợ thì đã ra tù về tội lừa đảo.

3. Qua đó, có thể thấy lằn ranh giữa quan hệ dân sự (vay mượn) và hình sự (lừa đảo) là khá mong manh. Nếu một người mượn tiền của người khác, thông qua giấy mượn tiền thật, rồi sau này xù nợ (nhưng không bỏ trốn) - thì dù nạn nhân có tố cáo, vẫn không bị xem là hành vi lừa đảo. Mà chỉ là sự "vi phạm thỏa thuận dân sự". Sẽ không bị đi tù như bà Chi. Ngược lại, nếu có dấu hiệu gian dối, thì dù nhỏ, và vẫn phải trả nợ hay thậm chí trả xong nợ, vẫn bị truy tố và phải đi tù về tội lừa đảo.

4. Trên thực tế, rất nhiều người hiểu được bản chất của lằn ranh trên, nên đã xù nợ công khai, thậm chí có thái độ thách thức, mà phía chủ nợ đành ngậm đắng nuốt cay, không làm gì được. Chẳng hạn như gần đây báo chí có đưa tin về một tiệm vàng rất lớn ở TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tiệm vàng này vay tiền của rất nhiều người, tổng số vay lên tới nhiều trăm tỷ đồng. Nhưng khi đến hạn thì không trả, tuyên bố "vỡ nợ". Các chủ nợ gửi đơn tố cáo tới cơ quan công an, báo chí dùng từ "thách thức pháp luật" ... - nhưng rồi cuối cùng cũng sẽ khó mà quy kết trách nhiệm hình sự đối với chủ tiệm vàng được.

-----------------

Quy định tại Bộ luật hình sự:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.