Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013

Dùng hung khí chém vào đâu trên cơ thể thì bị truy tố tội "giết người"?


(BLA) - Giết người là một trong những tội nghiêm trọng nhất, vì đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng con người, vốn được xem là vô giá, được pháp luật bảo vệ. Trên thực tế, nhiều bị cáo đã bị Tòa tuyên phạm tội giết người vì đã dùng hung khí (dao, gậy ...) đánh vào người nạn nhân, dù nạn nhân không tử vong. Vậy, dùng hung khí đánh vào đâu trên cơ thể thì bị truy tố tội danh giết người?


Luật sư Trần Hồng Phong

Báo Pháp luật TP. HCM đưa tin ngày 24-12-2013, TAND TP Cần Thơ xét xử sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Đức tám năm tù về tội giết người và bồi thường thiệt hại cho bị hại tổng cộng 91 triệu đồng.

Theo cáo trạng, ngày 19-7-2013, sau khi ăn giỗ, Đức và người bị hại tham gia đánh bài ăn tiền. Người bị hại thua 10.000 đồng nhưng đưa tờ 200.000 đồng chung thì Đức lấy cất đi. Người bị hại đòi thối lại 190.000 đồng nhưng Đức không trả nên xảy ra cự cãi rồi đánh nhau. Được mọi người can nhiều lần nên Đức đã định đi về nhưng sau đó quay lại dùng búa đánh vào đầu người bị hại khiến người này bị thương tật 25%.

Tại tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo không có động cơ giết người bị hại, truy tố bị cáo tội giết người có chủ ý là oan. Từ đó, luật sư đề nghị HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm sáng tỏ vụ án hoặc không trả hồ sơ thì chuyển tội danh sang thành "cố ý gây thương tích".

Theo bản án, HĐXX nhận định hành vi của bị cáo là cực kỳ nguy hiểm. Cụ thể bị cáo đã dùng búa, là một loại hung khí nguy hiểm, đập vào vùng đầu - là nơi hiểm yếu của con người. Do vậy đã phạm vào tội giết người. Tuy nhiên, bị cáo đã thấy được mức độ phạm tội, khắc phục được một phần hậu quả, chưa có tiền án... nên Tòa đã tuyên dưới khung hình phạt.

Như vậy, có thể thấy trong vụ án trên, dù thực tế nạn nhân không tử vong (mà "chỉ" bị thương tật 25%), nhưng bị cáo vẫn bị quy kết về tội giết người. Điều này dựa trên cơ sở nào, có hợp lý không? Vì sao?

Dưới đây là ý kiến bình luận của luật sư Trần Hồng Phong:

Tội giết người thuộc nhóm các tội danh xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người - quy định tại chương 12 Bộ luật hình sự.

Pháp luật hình sự Việt Nam (nguồn gốc và cơ sở khoa học thuộc hệ thống pháp luật của các nước XHCN trước đây, có sự khác biệt với một số nước tư bản) thuộc dạng phân tích tội phạm theo "nội dung" - từ các "cấu thành tội phạm", chứ không phải chỉ đơn thuần chỉ xem xét về "hình thức" - dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, một bị cáo tuy hành vi do mình gây ra không làm chết người (chưa xảy ra hậu quả chết người) nhưng vẫn có thể bị quy kết về tội giết người là điều khá phổ biến, bình thường.

Theo nguyên tắc và khoa học pháp luật hình sự Việt Nam, một hành vi bị xác định là "tội phạm" khi và chỉ khi phải có đủ 4 yếu tố cấu thành (gọi là các "cấu thành tội phạm") gồm: chủ thể, mặt chủ quan, khách thể và mặt khách quan.

Nói một cách nôm na dễ hiểu thì như thế này:

- Chủ thể:  là "người thực hiện hành vi" có dấu hiệu phạm tội.

- Mặt chủ quan: tức là sự nhận thức, suy nghĩ của chủ thể. Thông thường có 2 dạng là "cố ý" và/hoặc "vô ý". Chẳng hạn có thể không mong muốn, nhưng chủ thể đã vô ý gây chết người. Khi đó sẽ phạm tội "vô ý làm chết người".

- Khách thể: tức là đối tượng bị chủ thể xâm hại. Chẳng hạn như trong tội giết người, thì khách thể chính là tính mạng con người. Còn trong tội trộm cắp tài sản, thì khách thể chính là tài sản.

- Mặt khách quan: là dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài của hành vi có dấu hiệu phạm tội. Chẳng hạn như đối với tội giết người, thì dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài là (ví dụ): hành vi dùng dao chém nạn nhân, dấu vế dao chém trên cơ thể nạn nhân ...

Chỉ khi nào có đủ 4 yếu tố cấu thành nêu trên và phù hợp với quy định trong Bộ luật hình sự, thì mới có thể kết luận đó là hành vi tội phạm.

Chẳng hạn như người dân phát hiện có một xác người bị chém chết nằm trên đường. Nhưng sau đó công an không tìm ra người chém - tức là không tìm ra "chủ thể". Nên sẽ xem như không có tội phạm ở đây. Chính xác hơn là chưa có tội phạm.

Quay trở lại với tội danh giết người, tại điều 93 Bộ luật hình sự quy định như sau:

---------------------

Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết nhiều người;
b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
c) Giết trẻ em;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; 
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức; 
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

-------------------------

Với nội dung như trên, có thể thấy là điều luật đã không giải thích rõ thế nào là "giết người".

Chính vì vậy, để kết luận một hành vi có phải đã phạm vào tội giết người hay không, đòi hỏi Tòa án (khi xét xử) phải vận dụng kiến thức lý thuyết và nguyên tắc như nói ở trên. Và có phần chủ quan theo nhận thức, trình độ của mỗi người.

Chính vì vậy, nói khác đi, nếu là người không từng học luật tại Việt Nam và không từng làm trong ngành pháp luật tại Việt Nam, thì sẽ rất khó khăn để xác định thế nào là hành vi phạm tội giết người - theo luật Việt Nam. Chẳng hạn trong vụ án trên, thậm chí có người sẽ nói là bị cáo Nguyễn Văn Đức không thể phạm tội giết người, vì nạn nhân đâu có chết. Chỉ phạm tội cố ý gây thương tích thôi.

(Lưu ý: Trong khi đó, cũng trong Bộ luật hình sự, lại có những điều luật có sự giải thích hoặc diễn tả khá rõ về hành vi phạm tội. Chẳng hạn như luật quy định (giải thích) người nào có "hành vi gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác" thì có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Như vậy, dấu hiệu ở đây là sự "gian dối").

Theo khoa học hình sự Việt Nam, tội giết người thuộc loại tội cố ý (về mặt chủ quan). Tức là người có hành vi phạm tội có ý định hay mong muốn làm cho nạn nhân phải chết. Còn nếu không cố ý, không mong muốn nạn nhân chết - thì sẽ không phạm tội giết người. Mà sẽ phạm vào tội khác, chẳng hạn như vô ý làm chết người, hay cố ý gây thương tích ...vv.

Tại phiên tòa xét xử, hầu hết các bị cáo đều sẽ khai (và luật sư cũng bào chữa) theo hướng là bị cáo không cố ý, không có mục tiêu giết nạn nhân mà chỉ là sự vô ý, lỡ tay... Mục đích là để "phá" cấu thành về mặt chủ quan - là dấu hiệu "cố ý", để được tuyên là không phạm tội giết người.

Thông thường và theo nguyên tắc xét xử các vụ án hình sự hiện nay, dù không có một điều luật thành văn, Hội đồng xét xử sẽ xem xét mặt chủ quan dựa trên sự thể hiện (ra bên ngoài) của các dấu hiệu khách quan trong vụ án.

Theo đó, quan điểm của tòa thường theo logic như sau: Bị cáo dùng hung khí chém vào đầu (hay những vị trí nguy hiểm trên cơ thể như tim, phổi ...) nạn nhân - là những nơi mà bị cáo biết rõ (có nghĩa vụ phải biết) là rất nguy hiểm, có thể gây chết người ngay tức khắc - mà vẫn thực hiện. Như vậy, rõ ràng bị cáo đã cố ý hoặc ít nhất là "có mong muốn", "bất chấp hậu quả xảy ra" - để làm chết nạn nhân. Đây là sự cố ý (trong nhận thức, ý chí) của bị cáo. Việc nạn nhân không chết là "ngoài mong muốn của bị cáo". Nếu bị cáo không mong muốn nạn nhân chết, thì sao không chém vào tay, chân - mà lại chém vào đầu?

Qua đó, có thể thấy là việc dùng hung khí chém, bắn ... vào vị trí nào trên cơ thể nạn nhân có ý nghĩa quyết định đến việc xác định tội danh của người thực hiện hành vi. Nếu đó là những vị trí hiểm yếu trên cơ thể, và thực tế đã gây ra thương tích nặng cho nạn nhân (dù không chết) thì hầu như chắc chắn sẽ bị quy kết đã phạm tội giết người.

Trường hợp vụ án trên là một ví dụ.

Thuần túy về mặt khoa học pháp lý, theo quan điểm của cá nhân tôi, thì việc lý luận/lập luận như trên không hẳn là tuyệt đối đúng. Vì rõ ràng vẫn có một phần của sự suy diễn chủ quan, gượng ép. Vì lẽ ý thức chủ quan (suy nghĩ, ý chí) của một người là trừu tượng, nằm trong suy nghĩ của chính người đó. Không ai có thể nhìn thấy hay cân đong, đo đếm được suy nghĩ, ý thức. Vì vậy, nếu chỉ thuần túy là nhìn từ dấu hiệu bên ngoài rồi "suy ra" suy nghĩ bên trong một con người - liệu có thật sự hợp lý và khoa học?

Tôi được biết pháp luật của một số nước tư bản (như Cộng hòa liên bang Đức) kết luận tội danh dựa theo dấu hiệu bên ngoài, mà không cần xem xét đến "suy nghĩ" (mặt chủ quan - theo khoa học hình sự Việt Nam" của bị cáo. Nếu bị cáo dùng dao đâm một người, nếu chết - thì phạm tội giết người. Còn nếu nạn nhân chưa chết, thì sẽ không phạm tội giết người.

Nói tóm lại, nói chung nếu ai có hành vi dùng dao chém vào đầu một người khác và gây thương tích nặng cho người này - thì gần như chắc chắn sẽ bị xử về tội giết người.

--------------------------------------

Đọc thêm những bài viết về khoa học pháp lý trong mục "Chính luận/sự kiện"